kính hiển vi quang học
1. Lịch sử : Anton van Leeuwenhoek (1632-1723) người Hà Lan là con của một nhà buôn vải,ông rất say mê mài thủy tinh chế tạo thấu kính. Ông được xem là cha đẻ của ngành vi trùng học bởi chính ông là người đầu tiên chế tạo ra kính hiển vi, đơn giản chỉ việc ghép hai thấu kính với nhau .Trong suốt cuộc đời của mình Leeuwenhoek đã mài được trên 500 thấu kính quang hoc,chế tạo khoảng 400 kính hiển vi khác nhau ,9 trong số đó còn tồn tại cho tới hôm nay.Ông đã dành phần lớn thời gian của mình để cải tiến chất lượng của những kính hiển vi này ,và học tất cả mọi thứ mà ông nhìn thấy được .Ông cũng ghi chép cẩn thận những quan sát. Ông đã sớm phát triển thành công kính hiển vi tốt nhất thời bấy giờ với độ phóng đại khoảng 500 lần.Và cho đến ngày hôm nay một số phương pháp chế tạo kính hiển vi của ông vẫn còn la điều bí ẩn
2. Quá trình phát triển :
Ngay từ khi mới ra đời kính hiển vi quang học với độ phóng đại dưới 100 lần đã thấy được nhiều điều kỳ thú.Chính Leeuwenhoek đã say xưa vẽ lại những gì ông quang sát được,xuất bản quyển sách có tên là “những điều Leeuwenhoek quang sát được dưới kính hiển vi”.
Thế giới nhỏ bé đã thu hút biết bao nhà khoa học, khi đã thấy được những vật nhỏ lại muốn thấy những vật nhỏ hơn. Bằng cách mài thấu kính tỉ mỉ hơn,ghép nối các thấu kính hoàn chỉnh hơn,có thể ghép nhiều hơn hai thấu kính,sẽ làm tăng hơn nữa độ phóng đại của kính hiển vi. Quá trình cải tiến đã làm cho kính hiển vi ngày càng tinh xảo
Độ phóng đại cao nhưng hình ảnh quan sát phải phân biệt rõ,người ta đưa ra một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng đó là độ phân giải : là khoảng cách bé nhất giữa hai điểm qua kính hiển vi mà mắt người có thể phân biệt được
Trên cơ sở lý thuyết nhiễu xạ ánh sáng, một kỹ sư người Đức đã tính toán và đưa ra một giới hạn của lý thuyết : kính hiển vi sử dụng ánh sáng có bước sóng l không thể có độ phân giải nhỏ hơn l/2
Ánh sáng mắt ta trông thấy được vào cỡ 0,6microm vậy độ phân giải kính hiển vi quang học không thể nhỏ hơn 0,3microm
Người ta vẫn liên tục cải tiến kính hiển vi quang học,một vật kính thực ra phải ghép từ nhiều thấu kính,mài rất công phu ,phức tạp giảm thiểu sắc sai,cầu sai… để tăng độ phân giải của kính
3. Cấu tạo:
http://farm2.static.flickr.com/1045/...dd73a8.jpg?v=0
http://farm2.static.flickr.com/1046/...2093fe.jpg?v=0
4. Các loại Kính hiển vi quang học
a)Kính hiển vi quang học đơn giản :
- Là kính hiển vi có cấu tạo như trình bày ở trên,làm việc theo nguyên tắc ghép thấu kính, ảnh chỉ rõ nét trên mặt phẳng và mẫu phải phẳng,ảnh nhìn thấy được là ảnh hai chiều
b) Kính hiển vi nổi:
- Kính hiển vi được chế tạo đặc biệt có thể quan sát được ảnh ba chiều vật mẫu, bằng cách sử dung hai thị kính (đôi khi có thể là hai kính hiển vi hoàn toàn) để tạo ra góc nhìn khác nhau giữa mắt trái và mắt phải cho ta hình ảnh ba chiều
http://farm2.static.flickr.com/1147/...16fddc.jpg?v=0
- Kính hiển vi quang học nổi thường được sử dụng để nghiên cứu bề mặt chất rắn, trong phẩu thuật, quan sát hoặc kiểm tra các board mạch điện v.v…
c) Một số loại kính hiển vi khác:
- Kính hiển vi đảo ngược (inverted): với nguồn sáng đặt phía trên hướng xuống dưới,quan sát ánh sáng phản xạ từ vật mẫu,khác với ánh sáng truyền qua của kính hiển vi thông thường .Kính hiển vi này thường được dùng để quan sát các tế bào sống,các chất hữu cơ trong các mẫu chứa lớn ,không thể quan sát như một mặt kính trong suốt .
- Kính hiển vi dành cho sinh viên :được chế tạo rẻ , bền và dể dàng sử dụng
- Kính hiển vi dùng trong nghiên cứu : chế tạo đắt tiền với nhiều cải tiến
- Kính hiển vi thạch học (petrographic): được chế tạo đặt biệt dùng cho nghiên cứu khoáng vật hoặc các vật liệu trong suốt
5. Nhận xét :Kính hiển vi quang học có nhiều ưu điểm: gọn nhẹ, làm việc trong không khí ,mẫu có thể khô hay ướt. Nhưng kính hiển vi quang học làm việc theo nguyên tắc ghép thấu kính ,ảnh chỉ rõ nét trên mặt phẳng và mẫu phải phẳng. Về cơ bản kính hiển vi quang học là kính hiển vi hai chiều