Với các tên gọi khác nhau như LLLT (Low Level Laser therapy), LILT (Low Intensity Laser Therapy), LEDT (Light Emitting Diode Therapy)… phương pháp điều trị laser công suất thấp (gọi tắt sắp tới trong bài này là LLLT) bao hàm mọi ứng dụng của ánh sáng laser hoặc của diode phát quang cường độ cao trong vùng ánh sáng đỏ hoặc hồng ngoại gần trong điều trị lâm sàng.
Thuật ngữ LLLT ra đời chính là để phân biệt với những ứng dụng laser công suất cao trong phẫu thuật chẳng hạn, trong lĩnh vực đó hiệu ứng nhiệt đóng vai trò chính trong tương tác của laser với tổ chức sống. Còn đối với LLLT, mật độ công suất ánh sáng không đủ lớn để gây nên tác dụng nhiệt nên vai trò chính trong tương tác chính là hiệu ứng quang hoá quang sinh của ánh sáng với các tổ chức ở mức tế bào.
Qua một số nghiên cứu cơ bản, người ta nhận thấy các ty lạp thể (mitochondria) có khả năng hấp thụ lớn ánh sáng ở vùng đỏ, còn ánh sáng vùng hồng ngoại gần được hấp thụ chủ yếu ở màng tế bào. Chính các quá trình quang hoá quang sinh dưới mức tế bào đó đã tạo nên những biến đổi sinh lý có lợi cho quá trình điều trị laser công suất thấp. Cho nên, các thiết bị LLLT hiện nay sử dụng chủ yếu ánh sáng có bước sóng từ 620nm đến 1260nm.
Các ánh sáng đỏ và hồng ngoại gần trên có thể tạo ra bởi laser (He-Ne, bán dẫn) hoặc diode phát quang (LED) cường độ cao. Cả laser và LED đều tạo ra ánh sáng đơn sắc, nhưng laser có tính ưu việt hơn ở tính kết hợp (sự đồng pha của sóng ánh sáng – xem ảnh minh họa). Tuy nhiên, LED cũng thường được sử dụng do giá thành thấp nhiều so với laser.
Các thiết bị LLLT thường có công suất từ 100mW đến 200mW và mật độ công suất trong khoảng 0.05W/cm2 - 5 W/cm2.
liều lượng của ánh sáng chiếu vào được xác định bởi mật độ năng lượng chiếu trên một đơn vị diện tích:
D [J/cm2] = M [W/cm2] * t[s]
với:
mật độ công suất: M [W/cm2] = P[W] / S[cm2]
P : công suất nguồn sáng , S : tiết diện chùm tia, t : thời gian chiếu.
|