goldviebags
14-06-2012, 10:17 AM
1. Ưu điểm của phương pháp phẫu thuật bằng laser :
Nhiệm vụ cơ bản của phẫu thuật là cắt bỏ những tổ chức thừa, những tổ chức bệnh lý của cơ thể và phục hồi chức năng.
Với dao mổ kim loại, có sự thuận lợi vì quen tay, dụng cụ lại đơn giản, dễ thao tác. Nhưng trên đường rạch nhất định sẽ chảy máu, các đường bạch huyết cũng không đóng kín, tạo khả năng di căn.
Với dao mổ điện, dùng dòng điện cao tần để đốt cháy tổ chức, cầm máu tốt. Nhưng trên bề mặt cắt lại xuất hiện vết than, có hoại tử, quá trình liền sẹo khó khăn.
Dao lưỡng cực không có vết than nhưng kém khả năng cắt và chỉ cầm máu ở những vi mạch nhỏ.
Dao lạnh thì tổn thương bề mặt cũng khá lớn, tốc độ lại chậm, khống chế đường cắt rất khó khăn, vì vậy chỉ dùng để cắt những tổ chức không cần độ chính xác cao.
Dao plasma có khả năng đốt cháy tổ chức và tạo ra đường cắt, nhưng cũng tạo ra vết bỏng lớn.
Dao mổ laser dựa trên hiệu ứng nhiệt của laser công suất cao, có tác dụng: cắt, quang động, bốc bay, bóc lớp, phân huỷ nhiệt chọn lọc, có đường cắt với độ chính xác cao. Ưu điểm của đường rạch laser hàng loạt:
– Giảm hoặc không cần dùng thuốc tê, mê.
– Không gây sự tiếp xức giữa dụng cụ và đường rạch.
– Vô khuẩn đường rạch.
– Cầm máu tốt.
– Giảm phù nề, tiết dịch, xung huyết.
– Gây chấn thương ở vùng rạch thấp nhất.
– Tạo hàng rào sinh học từ đường rạch.
– Rút ngắn thời gian mổ.
– Hậu phẫu nhẹ nhàng.
– Mở rộng khả năng điều trị ngoại trú.
– Cho phép can thiệp vào một số loại hình phẫu thuật mà dao mổ thường không can thiệp nỗi.
2. Nhược điểm :
Laser CO2 có nhược điểm là thiết bị cồng kềnh.
Do tia laser không nhìn thấy, phải được dẫn đường bằng laser He – Ne nên trường hợp không có laser He – Ne sẽ gây nguy hiểm cho người sử dụng.
Đòi hỏi thao tác của bác sĩ thật chính xác do đó đòi hỏi người phẫu thuật phải có kỹ năng cao.
3. Những vấn đề liên quan :
Laser CO2 cũng như một số laser khí khác: chứa đầy khí giữa 2 gương phản xạ DC và RF. Kim loại để mạ gương là molybdenum rắn, vàng hoặc đồng đỏ hay một số kim loại phủ đáy khác có khả năng phản xạ tốt. Tuy nhiên ở bước sóng 10,6ىm không thể dùng gương thuỷ tinh chắn sáng ở vị trí tia laser ra (gương OC). Bộ phận quang trong laser CO2 thường dùng là hợp kim ZnSe bởi vì nó bị mất mát rất nhỏ ở bước sóng 10,6 ىm. Germani cũng có thể dùng nhưng phải làm mát để tổn thất ít nhất cho laser công suất cao. Một số hợp chất khác cũng có thể dùng cho bộ phận quang của laser CO2 như: NaCl, CaCl, BaF nhưng chúng lại hút ẩm.
Hỗn hợp khí điển hình: 9,5% CO2, 13,5% N2, 77% He.
Laser CO2 là hệ thống 3 mức. Nguyên lý bơm đầu tiên là phóng điện kích thích nguyên tử N2, năng lượng kích thích N2 là năng lượng cần để đưa phân tử CO2 từ mức sàn (mức 1) lên mức 3. Sự phát kích thích xảy ra giữa mức 3 và mức 2. Thời gian sống mức 2 khoảng 2ms với áp suất khoảng vài Torr.
Bước sóng là 10,6ىm nhưng còn phụ thuộc vào mức năng lượng. Đôi khi là 9,6ىm. Cũng có thể có con số khác trong khoảng 9-11 nhưng hiếm khi xuất hiện trong laser CO2 thương mại.
Heli pha trong hỗn hợp ngoài tác dụng giảm bớt mức 2 còn tác dụng cải thiện nhiệt nóng truyền trong hỗn hợp khí để đạt được năng lượng tốt ở cổng ra.
Hỗn hợp khí ở giữa ống có nhiệt độ nóng nhất và ra đến thành ống nhiệt độ giảm dần. Khi áp suất tăng việc tải nhiệt sẽ xấu hơn. Vì vậy với ống nhỏ thì áp suất khí có thể sẽ lớn hơn. Đó là lý do tại sao năng lượng phát laser phụ thuộc vào bề dài ống mà không phụ thuộc vào đường kính (đường kính ống nhỏ → áp suất lớn hơn → mật độ CO2 lớn hơn, bù cho đường kính nhỏ hơn).
Nhiệm vụ cơ bản của phẫu thuật là cắt bỏ những tổ chức thừa, những tổ chức bệnh lý của cơ thể và phục hồi chức năng.
Với dao mổ kim loại, có sự thuận lợi vì quen tay, dụng cụ lại đơn giản, dễ thao tác. Nhưng trên đường rạch nhất định sẽ chảy máu, các đường bạch huyết cũng không đóng kín, tạo khả năng di căn.
Với dao mổ điện, dùng dòng điện cao tần để đốt cháy tổ chức, cầm máu tốt. Nhưng trên bề mặt cắt lại xuất hiện vết than, có hoại tử, quá trình liền sẹo khó khăn.
Dao lưỡng cực không có vết than nhưng kém khả năng cắt và chỉ cầm máu ở những vi mạch nhỏ.
Dao lạnh thì tổn thương bề mặt cũng khá lớn, tốc độ lại chậm, khống chế đường cắt rất khó khăn, vì vậy chỉ dùng để cắt những tổ chức không cần độ chính xác cao.
Dao plasma có khả năng đốt cháy tổ chức và tạo ra đường cắt, nhưng cũng tạo ra vết bỏng lớn.
Dao mổ laser dựa trên hiệu ứng nhiệt của laser công suất cao, có tác dụng: cắt, quang động, bốc bay, bóc lớp, phân huỷ nhiệt chọn lọc, có đường cắt với độ chính xác cao. Ưu điểm của đường rạch laser hàng loạt:
– Giảm hoặc không cần dùng thuốc tê, mê.
– Không gây sự tiếp xức giữa dụng cụ và đường rạch.
– Vô khuẩn đường rạch.
– Cầm máu tốt.
– Giảm phù nề, tiết dịch, xung huyết.
– Gây chấn thương ở vùng rạch thấp nhất.
– Tạo hàng rào sinh học từ đường rạch.
– Rút ngắn thời gian mổ.
– Hậu phẫu nhẹ nhàng.
– Mở rộng khả năng điều trị ngoại trú.
– Cho phép can thiệp vào một số loại hình phẫu thuật mà dao mổ thường không can thiệp nỗi.
2. Nhược điểm :
Laser CO2 có nhược điểm là thiết bị cồng kềnh.
Do tia laser không nhìn thấy, phải được dẫn đường bằng laser He – Ne nên trường hợp không có laser He – Ne sẽ gây nguy hiểm cho người sử dụng.
Đòi hỏi thao tác của bác sĩ thật chính xác do đó đòi hỏi người phẫu thuật phải có kỹ năng cao.
3. Những vấn đề liên quan :
Laser CO2 cũng như một số laser khí khác: chứa đầy khí giữa 2 gương phản xạ DC và RF. Kim loại để mạ gương là molybdenum rắn, vàng hoặc đồng đỏ hay một số kim loại phủ đáy khác có khả năng phản xạ tốt. Tuy nhiên ở bước sóng 10,6ىm không thể dùng gương thuỷ tinh chắn sáng ở vị trí tia laser ra (gương OC). Bộ phận quang trong laser CO2 thường dùng là hợp kim ZnSe bởi vì nó bị mất mát rất nhỏ ở bước sóng 10,6 ىm. Germani cũng có thể dùng nhưng phải làm mát để tổn thất ít nhất cho laser công suất cao. Một số hợp chất khác cũng có thể dùng cho bộ phận quang của laser CO2 như: NaCl, CaCl, BaF nhưng chúng lại hút ẩm.
Hỗn hợp khí điển hình: 9,5% CO2, 13,5% N2, 77% He.
Laser CO2 là hệ thống 3 mức. Nguyên lý bơm đầu tiên là phóng điện kích thích nguyên tử N2, năng lượng kích thích N2 là năng lượng cần để đưa phân tử CO2 từ mức sàn (mức 1) lên mức 3. Sự phát kích thích xảy ra giữa mức 3 và mức 2. Thời gian sống mức 2 khoảng 2ms với áp suất khoảng vài Torr.
Bước sóng là 10,6ىm nhưng còn phụ thuộc vào mức năng lượng. Đôi khi là 9,6ىm. Cũng có thể có con số khác trong khoảng 9-11 nhưng hiếm khi xuất hiện trong laser CO2 thương mại.
Heli pha trong hỗn hợp ngoài tác dụng giảm bớt mức 2 còn tác dụng cải thiện nhiệt nóng truyền trong hỗn hợp khí để đạt được năng lượng tốt ở cổng ra.
Hỗn hợp khí ở giữa ống có nhiệt độ nóng nhất và ra đến thành ống nhiệt độ giảm dần. Khi áp suất tăng việc tải nhiệt sẽ xấu hơn. Vì vậy với ống nhỏ thì áp suất khí có thể sẽ lớn hơn. Đó là lý do tại sao năng lượng phát laser phụ thuộc vào bề dài ống mà không phụ thuộc vào đường kính (đường kính ống nhỏ → áp suất lớn hơn → mật độ CO2 lớn hơn, bù cho đường kính nhỏ hơn).