goldviebags
12-06-2012, 02:12 PM
MÁY ĐO HUYẾT ÁP
(Sphygmomanometer)
http://shop.thietbiysinh.com.vn/components/com_virtuemart/shop_image/product/M__y___o_HA_b____4a1ff71df27e8.jpg
Phần I: CƠ SỞ CHUNG VỀ MÁY ĐO HUYẾT ÁP
I. Cơ sở y sinh học về huyết áp
Huyết áp là lực đẩy của máu tác dụng trên một diện tích của thành mạch máu. Khi tim co bóp (khoảng 60 – 70 nhịp/phút), tim sẽ bơm máu từ tâm thất vào hệ thống động mạch. Huyết áp sẽ đạt trị số cao nhất vào lúc tim co bóp, gọi là huyết áp tâm thu. Khi tim giãn ra giữa 2 lần co bóp, huyết áp sẽ giảm xuống thấp nhất, gọi là huyết áp tâm trương.
Bình thường, huyết áp không phải là hằng số mà sẽ dao động. Trong ngày, huyết áp thay đổi theo nhịp sinh học của cơ thể, theo nhiệt độ môi trường. Huyết áp cũng thay đổi theo tuổi, theo tình trạng sức khỏe của cơ thể, do tâm lý, do cảm xúc, do thuốc, do thức ăn.
Những biến chứng của tăng huyết áp là do tác động đến cơ quan đích (mạch máu ở tim, thận, mắt, no) vì tổn thương những cơ quan này là kết quả cuối cùng của tình trạng p lực máu cao kéo dài. Do đó, chẩn đoán huyết áp cao ở một cá nhân rất quan trọng để cố gắng giữ huyết áp mức bình thường, và bằng cách đó, ngăn ngừa các biến chứng.
II. Tính năng, tác dụng của thiết bị
Đo trị số huyết áp.
Tự theo di huyết áp tại nhà
Theo GS Xavier Girerd, chủ tịch Ủy ban Phịng chống bệnh cao huyết p của Php: cứ 3 người bệnh thì có 1 người cĩ số đo huyết p khác nhau khi được theo di ở nh so với theo di ở bệnh viện. V ơng khuyn mọi người nn dnh thời gian thường xuyên đo huyết p tại nhà để cĩ kết quả chính xác hơn.
Phần II: GIỚI THIỆU MÁY – SO SÁNH CÁC LOẠI MÁY
I. Đặc tính kỹ thuật
Túi hơi Chiều cao: 2/3 độ dài cánh tay của người được đo
Chiều rộng: tối thiểu phải bằng chu vi cánh tay của người được đo
Khoảng huyết áp mà máy đo được: 0 – 300mmHg
Các thông số máy cung cấp (máy điện tử): Huyết áp tâm thu: 50-250mmHg
Huyết áp tâm trương: 40-180mmHg
Mạch: 40-160 lần/phút
Độ chính xác (máy điện tử):
Huyết áp: +/- 3mmHg
Mạch: +/- 5%
Năng lượng cần (máy điện tử): 2 pin 1.5V (Pin alkalin – Mangan – Micro)
Số lượt đo được khi dùng pile (máy điện tử): 2000
Áp suất hơi bơm (máy điện tử): 190mmHg
Tự động tắt máy (máy điện tử): 3 phút sau khi ngừng đo
Nút xả hơi (máy điện tử): điều khiển bằng điện tử và nhịp mạch
Số lượng lưu trữ (máy điện tử): 2 x 30 kết quả đo và trị số trung bình
Điều kiện hoạt động (máy điện tử): Nhiệt độ môi trường: 10-400C
Độ ẩm tương đối (máy điện tử): 15-90%
III. Cấu tạo – Nguyên lý hoạt động của huyết áp kế
1. Áp lực máu được đo bằng dụng cụ gọi là huyết áp kế.
Huyết áp kế cơ bản bao gồm 1 bơm khí, 1 đồng hồ đo áp lực, và 1 túi hơi. Đơn vị huyết áp là mmHg (milimet thuỷ ngân).
[Ống nghe: Đối với huyết áp kế thủy ngân và huyết áp kế đồng hồ cần phải có ống nghe khi thực hiện thao tác đo huyết áp].
Khi đo huyết áp, túi hơi được bao lấy cánh tay và bơm phồng lên đến 1 áp lực có thể cản trở dịng mu ở động mạch chính (ÐM cnh tay) đi qua cánh tay. Sau đó, xả áp lực trong túi hơi và trên ÐM giảm dần. Khi p lực giảm dần, nhn vin y tế sẽ nghe bằng ống nghe ngay trn ÐM ở khuỷu tay. p lực m nhn vin y tế nghe mạch lần đầu là huyết áp tâm thu. Khi áp lực túi hơi giảm hơn nữa, áp lực tại đó mạch ngưng là huyết áp tâm trương.
2. Nguyên lý hoạt động của huyết áp kế là đo gián tiếp dao động của áp lực máu.
Huyết áp kế thủy ngân: Cơ chế đơn giản, đo dao động huyết áp nhờ trọng lực.
Huyết áp kế đồng hồ: Có đồng hồ kim xoay tròn như compass, đo dao động huyết áp bởi một lò xo kim loại.
Huyết áp kế điện tử: đo dao động huyết áp bằng mạch cảm ứng điện.
IV. So sánh các loại huyết áp kế
1. Huyết áp kế thủy ngân:
Ưu điểm: Dụng cụ chuẩn để đo huyết áp là huyết áp kế thủy ngân. Huyết áp kế loại này có thể sử dụng lâu, ít bảo trì, dễ sử dụng và không cần điều chỉnh. Có một thước đo có hình trụ dài bằng thủy tinh hoặc bằng nhựa, chứa thủy ngân. Để giảm nguy cơ bị bể ống, người ta bọc Mylar bên ngoài ống thủy tinh. Thường thì huyết áp kế loại này ít được dùng ở gia đình vì nguy cơ ngộ độc thủy ngân. Tuy nhiên có những huyết áp kế thủy ngân được thiết kế nhẹ, túi hơi hình vòng D có đính kèm theo ống nghe để sử dụng ở nhà.
Nhược điểm: Cồng kềnh. Khi cột thủy ngân bị bể và văng ra sẽ trở thành chất gây độc. Phải đặt máy ở vị trí thẳng đứng trên một bề mặt trong khi đo; thước đo phải đặt ngang tầm mắt để đọc cho chính xác. Máy có thể không hoạt động tốt; khó nghe, khó nhìn rõ dao động thủy ngân, khó bóp bóng thì cần kiểm tra các mối nối trong các ống và siết chặt lại hoặc bơm phồng bao hơi.
2. Các máy theo dõi huyết áp:
2.1 Huyết áp kế đồng hồ
Ưu điểm: Giá rẻ, nhẹ và tiện mang đi hơn huyết áp kế thủy ngân. Đồng hồ có thể để ở bất kỳ vị thế nào chỉ cần người đọc nhìn trực tiếp mặt đồng hồ là được. Một vài loại máy huyết áp kế đồng hồ rất dễ đọc vì mặt đồng hồ lớn, có túi hơi hình vòng D để tự đo huyết áp; đính kèm ống nghe và valve xả khí tự xả để tăng độ chính xác.
Nhược điểm: Dễ vỡ và cơ chế hoạt động phức tạp. Mỗi năm ít nhất nên so sánh 1 lần với huyết áp kế thủy ngân hoặc phải kiểm tra lại sau khi làm rớt hoặc va chạm mạnh. Đồng hồ có thể quá to so với tay người được đo, nếu không có túi hơi hình vòng D thì khó tự đo huyết áp được. Máy có thể không hoạt động tốt; khó nghe, khó nhìn rõ dao động kim, khó bóp bóng thì cần kiểm tra các mối nối trong các ống và siết chặt lại hoặc bơm phồng bao hơi.
2.2 Huyết áp kế điện tử:
Huyết áp kế điện tử đeo ở cánh tay: là loại huyết áp điện tử thường dùng nhất. Khi dùng loại máy này phải đo chính xác chu vi cánh tay để bảo đảm kích thước túi hơi phải vừa với cánh tay người đo như vậy kết quả huyết áp mới chính xác.
Huyết áp kế điện tử đeo ở cổ tay: hiện nay khá phổ biến. Mức chính xác khá cao. Điều cần nhớ là phải đặt cổ tay lên ngực chỗ ngang tim.
Ưu điểm: kết cấu gọn trong một khối, dễ sử dụng hơn, ít lỗi máy. Người khiếm thính, khiếm thị có thể sử dụng được.
Nhược điểm: Cơ chế hoạt động phức tạp, máy dễ vỡ và nhạy cảm. Lần đầu tiên sử dụng phải kiểm tra so với huyết áp kế thủy ngân, trong quá trình sử dụng vẫn phải thường so sánh với huyết áp kế thủy ngân. Kết quả có khi không chính xác ở vài người. Giá đắt. Cần nhiều pin và bộ biến nguồn AC cho loại máy có túi hơi lớn.
Phần III: VẬN HÀNH – BẢO DƯỠNG – SỬA CHỮA THIẾT BỊ
I. Vận hành
Huyết áp được đo như thế nào?
Kiểm tra huyết áp ở tư thế ngồi và nằm cho kết quả tương tự. Để kiểm tra huyết áp cẩn thận, sau khi thực hiện ở một trong hai tư thế trên, bác sĩ thường đo bổ sung ở tư thế đứng, nhất là trong lần khám đầu tiên. Mục đích là pht hiện xem bệnh nhn cĩ tình trạng tụt huyết p khi chuyển sang tư thế đứng hay không? Tình trạng ny xảy ra khi huyết p tm thu tụt xuống trn 10 mmHg, nhất l khi người bệnh có triệu chứng choáng váng, chóng mặt khi thay đổi tư thế. Ở những người có tình trạng ny, bc sĩ sẽ cn nhắc trong việc lựa chọn thuốc hạ p v chỉ định liều lượng.
Mỗi lần đo ít nhất 2 lần, cách nhau 1-2 phút và kết quả là trung bình cộng nếu KQ có khác biệt >5mmHg. Đo thêm khi kết quả khác xa nhạu nhưng không được đo quá nhiều lần ở một vị trí và phải xã hơi về số 0 rồi mới đo tiếp
Lần đo đầu tiên phải đo HA cả 2 tay để phát hiện sự khác biệt, lấy bên có KQ cao hơn
Đo HA tư thế đứng sau khi đứng 1 phút và 5 phút đối với người cao tuổi, NB đái tháo đường, người có nghi ngờ tụt HA tư thế đứng
Ảnh hưởng của tư thế:
Huyết áp thường được đo ở hai tư thế là ngồi và nằm ngửa, nhưng cả hai đều cho sự khác biệt. Khi đo ở tư thế nằm ngửa, cánh tay nên được nâng bởi một cái gối. HATTR đo được ở tư thế ngồi cao hơn so với nằm khoảng 5 mmHg. Vị trí của cánh tay được điều chỉnh sao cho băng quấn ở mức của nhĩ phải (khoảng ở gian sườn 2) ở cả hai vị trí, HATT ở tư thế nằm cao hơn 8 mmHg so với ngồi. Nếu không có chỗ dựa lưng, HATTR có thể cao hơn 6 mmHg so với khi có dựa lưng. Bắt chéo chân có thể tăng huyết áp tâm thu (THATT) lên 2 - 8 mmHg. Vị trí của cánh tay rất quan trọng khi đo ở tư thế ngồi, nếu cánh tay dưới mức của nhĩ phải, trị số HA đo được rất cao. Tương tự như vậy, nếu cánh tay đặt trên mức của nhĩ phải, trị số HA đo được rất thấp. Sự khác biệt này có thể do sự tác dụng của áp lực thủy tĩnh và khoảng 2 mmHg cho mỗi 2,54 cm trên hoặc dưới mức tim.
Sự khác biệt giữa hai tay:
Huyết áp nên được đo cả hai tay trong lần khám đầu tiên. Điều này có thể giúp phát hiện chỗ hẹp của ĐM chủ và ĐM chi trên. Khi sự khác biệt HA giữa hai tay là hằng định, HA ở tay cao hơn sẽ được sử dụng. Đối với người già và bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ), nên đo HA sau khi đứng dậy ít nhất 2 phút để phát hiện hạ HA tư thế đứng. Bao cao su của băng quấn HA kế phải ôm vòng ít nhất 80% chu vi cánh tay. Nếu dùng ống nghe để xác định HA nên chọn pha I và pha V Korotkoff để xác định HATT và HATTR; nếu không nghe được pha V, chọn pha IV thay thế. Mỗi lần khám đo ít nhất hai lần, cách nhau 1 - 2 phút. Nếu bệnh nhân bị rung nhĩ nên đo nhiều lần và dùng phương pháp đo ống nghe.
Các yếu tố làm sai lệch số đo:
(1) Những yếu tố sau đây làm huyết áp thấp giả tạo:
Túi hơi quá rộng.
Ngưng thuốc sau khi hút thuốc lá loại nặng khá lâu.
(2) Những yếu tố sau đây làm huyết áp cao giả tạo :
Túi hơi quá nhỏ.
Nói chuyện trong khi đo.
Vừa tập thể dục.
http://i219.photobucket.com/albums/cc267/bme087/maydohuyetap.jpg
II. Bảo dưỡng
Phải chuẩn máy theo cách hướng dẫn.
III. Những lỗi, hư hỏng thông thường – Biện pháp khắc phục
Tùy loại máy.
THEO DÕI HUYẾT ÁP TẠI NHÀ, TỰ ĐO HUYẾT ÁP
Tự đo huyết áp:
http://i219.photobucket.com/albums/cc267/bme087/dohuyetap.jpg
http://i219.photobucket.com/albums/cc267/bme087/huyetap.jpg
Các yếu tố làm sai lệch số đo:
(1) Những yếu tố sau đây làm huyết áp thấp giả tạo:
Túi hơi quá rộng.
Vừa tập thể dục.
Ngưng thuốc sau khi hút thuốc loại nặng khá lâu.
(2) Những yếu tố sau đây làm huyết áp cao giả tạo :
Túi hơi quá nhỏ.
Nói chuyện trong khi đo.
Nên dùng máy đo đã chuẩn hóa và đo đúng quy trình. Loại đo ở cổ tay thường không chính xác. Tiện lợi của việc theo dõi HA tại nhà là ghi được các số đo HA khi thức trong nhiều ngày, giảm được hiệu ứng THA “áo choàng trắng”. Điều quan trọng của đo HA tại nhà là giúp bệnh nhân biết con số HA của mình khi điều trị. Con số HA đo tại nhà thường thấp hơn tại phòng khám, cho nên phải giảm bớt ngưỡng và mục tiêu HA (ví dụ 10/5 mmHg) để điều trị khi đo HA tại nhà. Điều bất tiện của đo HA tại nhà là báo cáo sai lệch nên không giám sát được việc thay đổi thuốc. Hiện chưa có thỏa ước nào về số lần đo cũng như thời điểm đo HA và ngưỡng HA nào là bất thường, nhưng bệnh nhân có HA tại nhà dưới 130/85 mmHg có thể xem như bình thường. Tự đo HA tại nhà không thể cung cấp thông tin đầy đủ về giá trị HA trong 24 giờ, tuy nhiên có thể cung cấp trị số HA trong những ngày khác nhau và gần với hoàn cảnh sống bình thường hơn. Các trị số trung bình thu được vài ngày cũng mang lại một số thông tin, ưu điểm như: đo HA 24 giờ, tránh được hiệu quả “áo choàng trắng” và có thể giúp dự báo nhất định sự hiện diện và tiến triển của tổn thương cơ quan đích so với đo HA tại phòng khám. Do vậy, đo HA tại nhà vào các khoảng thời gian thích hợp trước và suốt quá trình điều trị cũng có thể được khuyến khích, bởi vì đây là phương pháp tương đối cũ và có thể cải thiện sự gắn kết bệnh nhân và điều trị.
Một số điểm lưu ý khi đo HA tại nhà:
- Sử dụng các máy đo chính xác đã chuẩn hóa, không nên dùng các loại máy quấn ngang cổ tay. Khi đo cánh tay của bệnh nhân phải đạt ngang mức nhĩ phải.
- Khuyến khích sử dụng các máy bán tự động và tự động vì HA kế thủy ngân sẽ làm cho bệnh nhân khó khăn trong sử dụng và có thể sai sót với động tác nghe, đặc biệt ở người già.
- Bệnh nhân phải ngồi nghỉ vài phút trước khi đo và cần biết rằng các trị số HA có thể khác nhau trong các lần đo khác nhau, do sự thay đổi áp lực máu tự động.
- Người nhà, bác sĩ tránh yêu cầu bệnh nhân đo nhiều lần quá mức cần thiết, nhưng cần thiết phải đo vài lần trước khi dừng thuốc và trong suốt quá trình điều trị.
- Lưu ý rằng các giá trị bình thường đo ở nhà thấp hơn so với đo ở phòng khám. Giá trị đo ở nhà 135/85 mmHg tương ứng với 140/90 mgHg đo ở phòng khám hoặc bệnh viện.
- Cần hiểu rõ tính cần thiết ghi chép cẩn thận để cung cấp đầy đủ và chính xác các giá trị đo được và tránh tự mình thay đổi các chế độ điều trị.
CHỈ ĐỊNH CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP
Huyết áp đo được tại phòng khám hoặc tại trung tâm y tế nên được sử dụng như là thông số tham khảo.
Theo dõi HA 24 giờ có thể được xem như bổ trợ lâm sàng khi:
- Giá trị HA đo tại phòng khám khác nhau đáng kể khi đo nhiều lần hoặc đo nhiều thời điểm.
- Giá trị HA đo tại phòng khám cao ở những đối tượng có nguy cơ tim mạch thấp.
- Có sự khác nhau mâu thuẫn giữa HA đo tại phòng khám và đo tại nhà.
- Không đáp ứng điều trị.
- Áp dụng trong các nghiên cứu.
Chỉ định theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ: huyết áp dao động bất thường, nghi ngờ “THA áo choàng trắng”, cần thông tin để quyết định điều trị, đánh giá THA ban đêm, xác định hiệu quả của thuốc qua 24 giờ, chẩn đoán và điều trị THA thai kỳ, đánh giá hạ HA triệu chứng.
Tự đo HA tại nhà được khuyến cáo áp dụng nhằm:
- Cung cấp nhiều thông tin cho các quy định của bác sĩ.
- Cải thiện sự gắn kết bệnh nhân vào chế độ điều trị.
Tự đo HA tại nhà không được khuyến khích bất kỳ khi:
- Gây cho bệnh nhân lo lắng.
- Tạo thuận lợi làm cho bệnh nhân tự thay đổi chế độ điều trị.
- Giá trị HA bình thường khác nhau khi đo ở phòng khám, đo 24 giờ và đo tại nhà
(BS. ĐỖ CAO VÂN ANH)
(Sphygmomanometer)
http://shop.thietbiysinh.com.vn/components/com_virtuemart/shop_image/product/M__y___o_HA_b____4a1ff71df27e8.jpg
Phần I: CƠ SỞ CHUNG VỀ MÁY ĐO HUYẾT ÁP
I. Cơ sở y sinh học về huyết áp
Huyết áp là lực đẩy của máu tác dụng trên một diện tích của thành mạch máu. Khi tim co bóp (khoảng 60 – 70 nhịp/phút), tim sẽ bơm máu từ tâm thất vào hệ thống động mạch. Huyết áp sẽ đạt trị số cao nhất vào lúc tim co bóp, gọi là huyết áp tâm thu. Khi tim giãn ra giữa 2 lần co bóp, huyết áp sẽ giảm xuống thấp nhất, gọi là huyết áp tâm trương.
Bình thường, huyết áp không phải là hằng số mà sẽ dao động. Trong ngày, huyết áp thay đổi theo nhịp sinh học của cơ thể, theo nhiệt độ môi trường. Huyết áp cũng thay đổi theo tuổi, theo tình trạng sức khỏe của cơ thể, do tâm lý, do cảm xúc, do thuốc, do thức ăn.
Những biến chứng của tăng huyết áp là do tác động đến cơ quan đích (mạch máu ở tim, thận, mắt, no) vì tổn thương những cơ quan này là kết quả cuối cùng của tình trạng p lực máu cao kéo dài. Do đó, chẩn đoán huyết áp cao ở một cá nhân rất quan trọng để cố gắng giữ huyết áp mức bình thường, và bằng cách đó, ngăn ngừa các biến chứng.
II. Tính năng, tác dụng của thiết bị
Đo trị số huyết áp.
Tự theo di huyết áp tại nhà
Theo GS Xavier Girerd, chủ tịch Ủy ban Phịng chống bệnh cao huyết p của Php: cứ 3 người bệnh thì có 1 người cĩ số đo huyết p khác nhau khi được theo di ở nh so với theo di ở bệnh viện. V ơng khuyn mọi người nn dnh thời gian thường xuyên đo huyết p tại nhà để cĩ kết quả chính xác hơn.
Phần II: GIỚI THIỆU MÁY – SO SÁNH CÁC LOẠI MÁY
I. Đặc tính kỹ thuật
Túi hơi Chiều cao: 2/3 độ dài cánh tay của người được đo
Chiều rộng: tối thiểu phải bằng chu vi cánh tay của người được đo
Khoảng huyết áp mà máy đo được: 0 – 300mmHg
Các thông số máy cung cấp (máy điện tử): Huyết áp tâm thu: 50-250mmHg
Huyết áp tâm trương: 40-180mmHg
Mạch: 40-160 lần/phút
Độ chính xác (máy điện tử):
Huyết áp: +/- 3mmHg
Mạch: +/- 5%
Năng lượng cần (máy điện tử): 2 pin 1.5V (Pin alkalin – Mangan – Micro)
Số lượt đo được khi dùng pile (máy điện tử): 2000
Áp suất hơi bơm (máy điện tử): 190mmHg
Tự động tắt máy (máy điện tử): 3 phút sau khi ngừng đo
Nút xả hơi (máy điện tử): điều khiển bằng điện tử và nhịp mạch
Số lượng lưu trữ (máy điện tử): 2 x 30 kết quả đo và trị số trung bình
Điều kiện hoạt động (máy điện tử): Nhiệt độ môi trường: 10-400C
Độ ẩm tương đối (máy điện tử): 15-90%
III. Cấu tạo – Nguyên lý hoạt động của huyết áp kế
1. Áp lực máu được đo bằng dụng cụ gọi là huyết áp kế.
Huyết áp kế cơ bản bao gồm 1 bơm khí, 1 đồng hồ đo áp lực, và 1 túi hơi. Đơn vị huyết áp là mmHg (milimet thuỷ ngân).
[Ống nghe: Đối với huyết áp kế thủy ngân và huyết áp kế đồng hồ cần phải có ống nghe khi thực hiện thao tác đo huyết áp].
Khi đo huyết áp, túi hơi được bao lấy cánh tay và bơm phồng lên đến 1 áp lực có thể cản trở dịng mu ở động mạch chính (ÐM cnh tay) đi qua cánh tay. Sau đó, xả áp lực trong túi hơi và trên ÐM giảm dần. Khi p lực giảm dần, nhn vin y tế sẽ nghe bằng ống nghe ngay trn ÐM ở khuỷu tay. p lực m nhn vin y tế nghe mạch lần đầu là huyết áp tâm thu. Khi áp lực túi hơi giảm hơn nữa, áp lực tại đó mạch ngưng là huyết áp tâm trương.
2. Nguyên lý hoạt động của huyết áp kế là đo gián tiếp dao động của áp lực máu.
Huyết áp kế thủy ngân: Cơ chế đơn giản, đo dao động huyết áp nhờ trọng lực.
Huyết áp kế đồng hồ: Có đồng hồ kim xoay tròn như compass, đo dao động huyết áp bởi một lò xo kim loại.
Huyết áp kế điện tử: đo dao động huyết áp bằng mạch cảm ứng điện.
IV. So sánh các loại huyết áp kế
1. Huyết áp kế thủy ngân:
Ưu điểm: Dụng cụ chuẩn để đo huyết áp là huyết áp kế thủy ngân. Huyết áp kế loại này có thể sử dụng lâu, ít bảo trì, dễ sử dụng và không cần điều chỉnh. Có một thước đo có hình trụ dài bằng thủy tinh hoặc bằng nhựa, chứa thủy ngân. Để giảm nguy cơ bị bể ống, người ta bọc Mylar bên ngoài ống thủy tinh. Thường thì huyết áp kế loại này ít được dùng ở gia đình vì nguy cơ ngộ độc thủy ngân. Tuy nhiên có những huyết áp kế thủy ngân được thiết kế nhẹ, túi hơi hình vòng D có đính kèm theo ống nghe để sử dụng ở nhà.
Nhược điểm: Cồng kềnh. Khi cột thủy ngân bị bể và văng ra sẽ trở thành chất gây độc. Phải đặt máy ở vị trí thẳng đứng trên một bề mặt trong khi đo; thước đo phải đặt ngang tầm mắt để đọc cho chính xác. Máy có thể không hoạt động tốt; khó nghe, khó nhìn rõ dao động thủy ngân, khó bóp bóng thì cần kiểm tra các mối nối trong các ống và siết chặt lại hoặc bơm phồng bao hơi.
2. Các máy theo dõi huyết áp:
2.1 Huyết áp kế đồng hồ
Ưu điểm: Giá rẻ, nhẹ và tiện mang đi hơn huyết áp kế thủy ngân. Đồng hồ có thể để ở bất kỳ vị thế nào chỉ cần người đọc nhìn trực tiếp mặt đồng hồ là được. Một vài loại máy huyết áp kế đồng hồ rất dễ đọc vì mặt đồng hồ lớn, có túi hơi hình vòng D để tự đo huyết áp; đính kèm ống nghe và valve xả khí tự xả để tăng độ chính xác.
Nhược điểm: Dễ vỡ và cơ chế hoạt động phức tạp. Mỗi năm ít nhất nên so sánh 1 lần với huyết áp kế thủy ngân hoặc phải kiểm tra lại sau khi làm rớt hoặc va chạm mạnh. Đồng hồ có thể quá to so với tay người được đo, nếu không có túi hơi hình vòng D thì khó tự đo huyết áp được. Máy có thể không hoạt động tốt; khó nghe, khó nhìn rõ dao động kim, khó bóp bóng thì cần kiểm tra các mối nối trong các ống và siết chặt lại hoặc bơm phồng bao hơi.
2.2 Huyết áp kế điện tử:
Huyết áp kế điện tử đeo ở cánh tay: là loại huyết áp điện tử thường dùng nhất. Khi dùng loại máy này phải đo chính xác chu vi cánh tay để bảo đảm kích thước túi hơi phải vừa với cánh tay người đo như vậy kết quả huyết áp mới chính xác.
Huyết áp kế điện tử đeo ở cổ tay: hiện nay khá phổ biến. Mức chính xác khá cao. Điều cần nhớ là phải đặt cổ tay lên ngực chỗ ngang tim.
Ưu điểm: kết cấu gọn trong một khối, dễ sử dụng hơn, ít lỗi máy. Người khiếm thính, khiếm thị có thể sử dụng được.
Nhược điểm: Cơ chế hoạt động phức tạp, máy dễ vỡ và nhạy cảm. Lần đầu tiên sử dụng phải kiểm tra so với huyết áp kế thủy ngân, trong quá trình sử dụng vẫn phải thường so sánh với huyết áp kế thủy ngân. Kết quả có khi không chính xác ở vài người. Giá đắt. Cần nhiều pin và bộ biến nguồn AC cho loại máy có túi hơi lớn.
Phần III: VẬN HÀNH – BẢO DƯỠNG – SỬA CHỮA THIẾT BỊ
I. Vận hành
Huyết áp được đo như thế nào?
Kiểm tra huyết áp ở tư thế ngồi và nằm cho kết quả tương tự. Để kiểm tra huyết áp cẩn thận, sau khi thực hiện ở một trong hai tư thế trên, bác sĩ thường đo bổ sung ở tư thế đứng, nhất là trong lần khám đầu tiên. Mục đích là pht hiện xem bệnh nhn cĩ tình trạng tụt huyết p khi chuyển sang tư thế đứng hay không? Tình trạng ny xảy ra khi huyết p tm thu tụt xuống trn 10 mmHg, nhất l khi người bệnh có triệu chứng choáng váng, chóng mặt khi thay đổi tư thế. Ở những người có tình trạng ny, bc sĩ sẽ cn nhắc trong việc lựa chọn thuốc hạ p v chỉ định liều lượng.
Mỗi lần đo ít nhất 2 lần, cách nhau 1-2 phút và kết quả là trung bình cộng nếu KQ có khác biệt >5mmHg. Đo thêm khi kết quả khác xa nhạu nhưng không được đo quá nhiều lần ở một vị trí và phải xã hơi về số 0 rồi mới đo tiếp
Lần đo đầu tiên phải đo HA cả 2 tay để phát hiện sự khác biệt, lấy bên có KQ cao hơn
Đo HA tư thế đứng sau khi đứng 1 phút và 5 phút đối với người cao tuổi, NB đái tháo đường, người có nghi ngờ tụt HA tư thế đứng
Ảnh hưởng của tư thế:
Huyết áp thường được đo ở hai tư thế là ngồi và nằm ngửa, nhưng cả hai đều cho sự khác biệt. Khi đo ở tư thế nằm ngửa, cánh tay nên được nâng bởi một cái gối. HATTR đo được ở tư thế ngồi cao hơn so với nằm khoảng 5 mmHg. Vị trí của cánh tay được điều chỉnh sao cho băng quấn ở mức của nhĩ phải (khoảng ở gian sườn 2) ở cả hai vị trí, HATT ở tư thế nằm cao hơn 8 mmHg so với ngồi. Nếu không có chỗ dựa lưng, HATTR có thể cao hơn 6 mmHg so với khi có dựa lưng. Bắt chéo chân có thể tăng huyết áp tâm thu (THATT) lên 2 - 8 mmHg. Vị trí của cánh tay rất quan trọng khi đo ở tư thế ngồi, nếu cánh tay dưới mức của nhĩ phải, trị số HA đo được rất cao. Tương tự như vậy, nếu cánh tay đặt trên mức của nhĩ phải, trị số HA đo được rất thấp. Sự khác biệt này có thể do sự tác dụng của áp lực thủy tĩnh và khoảng 2 mmHg cho mỗi 2,54 cm trên hoặc dưới mức tim.
Sự khác biệt giữa hai tay:
Huyết áp nên được đo cả hai tay trong lần khám đầu tiên. Điều này có thể giúp phát hiện chỗ hẹp của ĐM chủ và ĐM chi trên. Khi sự khác biệt HA giữa hai tay là hằng định, HA ở tay cao hơn sẽ được sử dụng. Đối với người già và bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ), nên đo HA sau khi đứng dậy ít nhất 2 phút để phát hiện hạ HA tư thế đứng. Bao cao su của băng quấn HA kế phải ôm vòng ít nhất 80% chu vi cánh tay. Nếu dùng ống nghe để xác định HA nên chọn pha I và pha V Korotkoff để xác định HATT và HATTR; nếu không nghe được pha V, chọn pha IV thay thế. Mỗi lần khám đo ít nhất hai lần, cách nhau 1 - 2 phút. Nếu bệnh nhân bị rung nhĩ nên đo nhiều lần và dùng phương pháp đo ống nghe.
Các yếu tố làm sai lệch số đo:
(1) Những yếu tố sau đây làm huyết áp thấp giả tạo:
Túi hơi quá rộng.
Ngưng thuốc sau khi hút thuốc lá loại nặng khá lâu.
(2) Những yếu tố sau đây làm huyết áp cao giả tạo :
Túi hơi quá nhỏ.
Nói chuyện trong khi đo.
Vừa tập thể dục.
http://i219.photobucket.com/albums/cc267/bme087/maydohuyetap.jpg
II. Bảo dưỡng
Phải chuẩn máy theo cách hướng dẫn.
III. Những lỗi, hư hỏng thông thường – Biện pháp khắc phục
Tùy loại máy.
THEO DÕI HUYẾT ÁP TẠI NHÀ, TỰ ĐO HUYẾT ÁP
Tự đo huyết áp:
http://i219.photobucket.com/albums/cc267/bme087/dohuyetap.jpg
http://i219.photobucket.com/albums/cc267/bme087/huyetap.jpg
Các yếu tố làm sai lệch số đo:
(1) Những yếu tố sau đây làm huyết áp thấp giả tạo:
Túi hơi quá rộng.
Vừa tập thể dục.
Ngưng thuốc sau khi hút thuốc loại nặng khá lâu.
(2) Những yếu tố sau đây làm huyết áp cao giả tạo :
Túi hơi quá nhỏ.
Nói chuyện trong khi đo.
Nên dùng máy đo đã chuẩn hóa và đo đúng quy trình. Loại đo ở cổ tay thường không chính xác. Tiện lợi của việc theo dõi HA tại nhà là ghi được các số đo HA khi thức trong nhiều ngày, giảm được hiệu ứng THA “áo choàng trắng”. Điều quan trọng của đo HA tại nhà là giúp bệnh nhân biết con số HA của mình khi điều trị. Con số HA đo tại nhà thường thấp hơn tại phòng khám, cho nên phải giảm bớt ngưỡng và mục tiêu HA (ví dụ 10/5 mmHg) để điều trị khi đo HA tại nhà. Điều bất tiện của đo HA tại nhà là báo cáo sai lệch nên không giám sát được việc thay đổi thuốc. Hiện chưa có thỏa ước nào về số lần đo cũng như thời điểm đo HA và ngưỡng HA nào là bất thường, nhưng bệnh nhân có HA tại nhà dưới 130/85 mmHg có thể xem như bình thường. Tự đo HA tại nhà không thể cung cấp thông tin đầy đủ về giá trị HA trong 24 giờ, tuy nhiên có thể cung cấp trị số HA trong những ngày khác nhau và gần với hoàn cảnh sống bình thường hơn. Các trị số trung bình thu được vài ngày cũng mang lại một số thông tin, ưu điểm như: đo HA 24 giờ, tránh được hiệu quả “áo choàng trắng” và có thể giúp dự báo nhất định sự hiện diện và tiến triển của tổn thương cơ quan đích so với đo HA tại phòng khám. Do vậy, đo HA tại nhà vào các khoảng thời gian thích hợp trước và suốt quá trình điều trị cũng có thể được khuyến khích, bởi vì đây là phương pháp tương đối cũ và có thể cải thiện sự gắn kết bệnh nhân và điều trị.
Một số điểm lưu ý khi đo HA tại nhà:
- Sử dụng các máy đo chính xác đã chuẩn hóa, không nên dùng các loại máy quấn ngang cổ tay. Khi đo cánh tay của bệnh nhân phải đạt ngang mức nhĩ phải.
- Khuyến khích sử dụng các máy bán tự động và tự động vì HA kế thủy ngân sẽ làm cho bệnh nhân khó khăn trong sử dụng và có thể sai sót với động tác nghe, đặc biệt ở người già.
- Bệnh nhân phải ngồi nghỉ vài phút trước khi đo và cần biết rằng các trị số HA có thể khác nhau trong các lần đo khác nhau, do sự thay đổi áp lực máu tự động.
- Người nhà, bác sĩ tránh yêu cầu bệnh nhân đo nhiều lần quá mức cần thiết, nhưng cần thiết phải đo vài lần trước khi dừng thuốc và trong suốt quá trình điều trị.
- Lưu ý rằng các giá trị bình thường đo ở nhà thấp hơn so với đo ở phòng khám. Giá trị đo ở nhà 135/85 mmHg tương ứng với 140/90 mgHg đo ở phòng khám hoặc bệnh viện.
- Cần hiểu rõ tính cần thiết ghi chép cẩn thận để cung cấp đầy đủ và chính xác các giá trị đo được và tránh tự mình thay đổi các chế độ điều trị.
CHỈ ĐỊNH CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP
Huyết áp đo được tại phòng khám hoặc tại trung tâm y tế nên được sử dụng như là thông số tham khảo.
Theo dõi HA 24 giờ có thể được xem như bổ trợ lâm sàng khi:
- Giá trị HA đo tại phòng khám khác nhau đáng kể khi đo nhiều lần hoặc đo nhiều thời điểm.
- Giá trị HA đo tại phòng khám cao ở những đối tượng có nguy cơ tim mạch thấp.
- Có sự khác nhau mâu thuẫn giữa HA đo tại phòng khám và đo tại nhà.
- Không đáp ứng điều trị.
- Áp dụng trong các nghiên cứu.
Chỉ định theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ: huyết áp dao động bất thường, nghi ngờ “THA áo choàng trắng”, cần thông tin để quyết định điều trị, đánh giá THA ban đêm, xác định hiệu quả của thuốc qua 24 giờ, chẩn đoán và điều trị THA thai kỳ, đánh giá hạ HA triệu chứng.
Tự đo HA tại nhà được khuyến cáo áp dụng nhằm:
- Cung cấp nhiều thông tin cho các quy định của bác sĩ.
- Cải thiện sự gắn kết bệnh nhân vào chế độ điều trị.
Tự đo HA tại nhà không được khuyến khích bất kỳ khi:
- Gây cho bệnh nhân lo lắng.
- Tạo thuận lợi làm cho bệnh nhân tự thay đổi chế độ điều trị.
- Giá trị HA bình thường khác nhau khi đo ở phòng khám, đo 24 giờ và đo tại nhà
(BS. ĐỖ CAO VÂN ANH)