PDA

View Full Version : Nguyên l‎ý dùng sóng xung kích từ bên ngoài cơ thể để phá sỏi niệu đạo


dalimexdl
11-06-2012, 01:21 PM
Phương pháp phá sỏi từ bên ngoài cơ thể bằng sóng xung kích được nghiên cứu từ những năm 1970 và đã cho ra đời nhiều thiết bị điều trị. Nếu như trước đây phẫu thuật là phương pháp chính thì ngày nay phương pháp phá sỏi bằng sóng xung kích đã chứng tỏ ưu thế bằng việc giải quyết khoảng 90% đến 95% số trường hợp bệnh nhân có sỏi không cần phẩu thuật. Vậy cơ chế phá sỏi của sóng xung kích như thế nào mà nó có thể phá sỏi từ bên ngoài cơ thể bệnh nhân ?

1. Phân loại sỏi :

Sỏi đường niệu – sinh dục được chia thành 3 loại tùy thuộc theo vị trí : sỏi thận, sỏi niệu quản và sỏi bàng quang. Sỏi niệu quản còn được phân ra : sỏi niệu quản trên, sỏi niệu quản giữa và sỏi niệu quản dưới. Việc phân chia sỏi theo vị trí có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn phương pháp định vị thích hợp khi tiến hành phá sỏi theo phương pháp sóng xung kích.

Tùy theo vị trí và kích thước, sỏi thận còn được chia thành : sỏi bể thận, sỏi đơn cầu thận và sỏi khối cầu thận. Cách điều trị phụ thuộc vào từng loại sỏi.
Thực tế trong đường tiêu hóa (thực quản, dạ dày, ruột) không có sỏi. Nhưng trong các tuyến cơ quan có liên quan tới hoạt động của đường tiêu hóa thì vẫn có sỏi xuất hiện như : sỏi ở tuyến nước bọt, sỏi tuyến tụy, sỏi mật trong gan, đặc biệt là sỏi ống mật ở ngoài gan, ở đoạn từ gan hoặc từ túi mật tới ruột non và sỏi túi mật.

2. Sơ lược lịch sử của phương pháp phá sỏi bằng sóng xung kích :

Đối tượng của phương pháp phá sỏi từ bên ngoài cơ thể bằng sóng xung kích (Extraccorporeal Shock Wave Lithotripsy – viết tắt là ESWL) là sỏi xuất hiện trong cơ thể, thường gặp ở đường niệu – sinh dục và đường tiêu hóa.

Năm 1972, phương pháp ESWL được đề cập tới ở Munchen (Đức). Từ năm 1972 – 1980 phương pháp này được nghiên cứu phát triển chủ yếu vẫn ở Munchen do GS.TS Walter Breudel, khoa tiết niệu trường Đại học Ludwig Maximillian và GS.TS. Eghert Schmiedt, bệnh viện phẫu thuật thực nghiệm thành phố Grosshadern, tiến hành trên các thiết bị của hãng Dornier (Friedrehshafen). Tháng 2/1980 thiết bị đầu tiên của hãng Dornier là HM1 được đưa vào ứng dụng trên lâm sàng ở Munchen trên 200 bệnh nhân, chú trọng vào sỏi thận có chứa canxi đường kính nhỏ hơn 1cm.

Từ 1982 đến tháng 10/1983 thế hệ thứ hai của Dornier là HM2 được đưa vào sử dụng. Số bệnh nhân lên đến 800 người. Đối tượng là sỏi niệu quản có chọn lọc, sỏi nhiễm khuẩn, sỏi đơn cầu thận. Sỏi có kích thước tới 2,5cm.
Tháng 10/1983, thế hệ thứ ba – HM3 ra đời và được sản xuất hàng loạt, ứng dụng ở nhiều nơi tại CHLB Đức. Việc phá sỏi được kết hợp với phẫu thuật qua da. Phá sỏi mật cũng bắt đầu được nghiên cứu. Năm 1984, kỹ thuật ESWL được đưa vào sử dụng rộng rãi ở châu Âu, ở Mỹ và ở Nhật Bản. Năm 1985 phá sỏi mật bắt đầu thử nghiệm lâm sàng tại Munchen.

Đến cuối năm 1990 đã có gần 1 triệu bệnh nhân phá sỏi thận ở 400 trung tâm của 40 nước. Số bệnh nhân phá sỏi mật khoảng 20.000 người. Có khoảng 50 trung tâm ở 9 nước trên thế giới có đặt các thiết bị phá sỏi mật.

3. Nguyên tắc vật lý và cấu trúc điển hình của máy phá sỏi ESWL :

Sóng xung kích là gì ? Sóng xung kích là sự lan truyền của một miền chuyển tiếp mỏng, trong đó xảy ra sự thăng giáng đột ngột của mật độ, áp suất, vận tốc cỉa các hạt vật chất trong môi trường đàn hồi (chất rắn, chất lỏng, chất khí). Tốc độ lan truyền của sóng xung kích vượt tốc độ của sóng siêu âm trong cùng một môi trường. Sóng xung kích thường xuất hiện trong quá trình nổ của chất nổ, quá trình bay của đầu đạn hay máy bay với vận tốc siêu âm, quá trình phóng điện mạnh trong chất khí v.v... Hình ảnh của một sóng xung kích điển hình ta có thể quan sát rất rõ qua hình ảnh chụp một viên đạn bay với vận tốc siêu âm.

Trong môi trường đồng nhất, sóng xung kích lan truyền hầu như không bị mất mát năng lượng, nhưng trong trường hợp gặp một vật cản thì sức công phá của sóng xung kích rất lớn đối với vật đó bởi hai lý do :

- Khi sóng xung kích đập vào vật cản sẽ gây ra một xung lực áp suất lớn trên bề mặt vật cản. Lực hướng vào tâm của vật cản.

- Trên biên giữa môi trường với vật cản phần truyền của sóng xung kích phản xạ lại hợp nhất với phần sau của sóng tạo nên một lớp thăng giáng áp suất rất lớn gây nên lực ly tâm lớn.

Như vậy, trong khoảng thời gian rất ngắn, vật cản bị tác động bởi hai lực ngược chiều nhau và kết quả chỉ sau một thời gian, sau nhiều đợt sóng vật cản sẽ vỡ vụn. Trường hợp này giống hiện tượng sóng biển vỗ bờ; sóng tới đẩy ta vào, nhưng ngay sau đó sóng phản xạ hợp cùng sóng tới đẩy ta ra xa. Từ những tính chất trên, người ta xây dựng nguyên lý cơ bản của việc ứng dụng quá trình sóng xung kích để phá hủy sỏi nằm sâu trong cơ thể người từ bên ngoài như sau :

a. Tạo sóng xung kích bằng phương pháp nào đó và hội tụ được chúng vào viên sỏi.

b. Tạo một môi trường lan truyền sóng xung kích từ nguồn sóng đến viên sỏi với độ đồng nhất cao nhất, đấy chính là lý do trong thời gian đầu người ta phải thả bệnh nhân vào trong bồn chứa nước. Ngày nay, người ta đã chế tạo các loại đệm và mỡ tiếp xúc có tính chất tương tự như cơ thể người thay cho phương pháp phiền hà trên.

c. Hạn chế thấp nhất sự tổn thương của các tổ chức xung quanh viên sỏi. Điều này được thực hiện bằng hệ thống quan sát và định vị viên sỏi trong quá trình phá sỏi, hệ thống ngắm chính xác và chọn tham số của sóng xung kích phù hợp với từng loại sỏi và từng bệnh nhân cụ thể. Hiện nay có hai hệ thống định vị thông dụng : định vị bằng X-quang và định vị bằng siêu âm.

4. Kết luận :

Phương pháp này ngoài những ưu điểm trên cũng có nhiều hạn chế. Đòi hỏi người phẫu thuật viên phải xác định chính xác vị trí của viên sỏi, khi đó phương pháp điều trị mới thành công. Có nhiều người sau khi điều trị mà viên sỏi vẫn còn đó là do hạn chế của kỹ thuật : xác định vị trí viên sỏi không đúng, phá sỏi không triệt để, chúng sẽ tích tụ trở lại sau thời gian ngắn. Ngoài ra, những đợt xung kích cũng có tương tác với các bộ phận của cơ thể, có thể làm tổn thương chúng nhưng do cơ chế tự hồi phục sẽ không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của bệnh nhân. Phương pháp này có thể được xem như là phương pháp tối ưu nhất trong việc điều trị sỏi niệu quản.

sales
11-06-2012, 01:21 PM
Xin lỗi bạn Bao Linh, mình có đọc một bài viết nói về hậu quả của việc phá sỏi, xin bạn vui lòng cho biết có đúng vậy không ?

Liệu pháp điều tri sỏi thận bằng sóng xung (shock ware) liên quan tới tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và cao huyết áp

Những nhà nghiên cứu lâm sàng đang báo động tác dụng phụ của sóng xung, trong một nghiên cứu, họ nhận thấy quá trình điều trị sỏi thận thông thường tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và bệnh cao huyết. Nguy cơ mắc bệnh tiểu đường liên quan đến cường độ điều trị và lượng sóng dùng điều trị, bệnh cao huyết áp liên quan tới quá trình điều trị loại bỏ sỏi trên cả 2 thận.

Sóng xung phá vỡ sỏi thận thành những mảnh nhỏ hơn có thể tán ra ngoài thường trong một tháng. Để bệnh nhân và máy phát sóng xung trong một một bồn nước và cho máy phát ra sóng. Nước cho phép sóng xung dễ dàng dẩn tới người bệnh và tập trung chính xác vào sỏi thận.

Theo Amy Krambeck Thuộc khoa Tiết Niệu và các điều tra viên cho biết đây là một khám phá hoàn toàn mới. Việc này mở ra tầm nhìn của thế giới về tiết niệu với bệnh cao huyết áp và bệnh tiểu đường, hai bệnh này là những tác dụng phụ của điều trị. Họ không chắc chắn 100% việc điều trị sỏi thận bằng sóng sẽ gây bệnh tiểu đường và cao huyết áp, nhưng mối liên hệ giữa chúng rất mạnh. Nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường sau khi dùng sóng xung điều trị cao gấp 4 lần so với điều trị sỏi thận bằng thuốc, và nguy cơ phát triển bệnh cao huyết áp cao gấp 1,5 lần đây là một rủi ro đáng kể.

Nghiên cứu này là kiểm tra đầu tiên về tác động của sóng xung qua một thời gian dài liên quan tới 630 bệnh nhân điều trị với sóng xung vào năm 1985 ở bệnh viện Mayo. Những nhà nghiên cứu đã gửi bảng câu hỏi tới những người sau điều trị có kết quả khả quan, 60% trả lời. Những nhà nghiên cứu so sánh những bệnh nhân điều trị với sóng xung với những bệnh nhân cùng độ tuổi cùng giới tính và cùng một thời điểm bắt đầu xuất hiện sỏi thận nhưng điều trị bằng phương pháp khác là dùng thuốc. 19 năm điều trị, những người điều trị với sóng xung có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao gấp 3,75 lần so với những người điều trị bằng phương pháp khác. Những người điều trị bằng sóng xung cũng có nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp gấp 1,47 lần những người nhận phương pháp điều trị khác, nguy cơ này cao nhất đối với những người điều trị cả hai thận.

Những nhà nghiên cứu giả thuyết rằng việc tăng nguy cơ về bệnh tiểu đường liên quan tới việc dùng liệu pháp điều trị sỏi thận bằng sóng xung gây tổn thương đến tuyến tụy, nguy cơ đã được biết sớm của sóng xung, có thể tác động đến tế bào tạo insulin trong tuyến tụy. Họ tin rằng tăng nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp có thể liên quan tới những tổn thương do điều trị bằng sóng xung gây ra cho thận và có thể thay đổi quá trình tiết hormone trong thận như renin, điều này ảnh hưởng đến áp suất của máu.

Hai nhà nghiên cứu Krambeck và Joseph Segura Khoa tiết niệu bệnh viện Mayo và các điều tra viên cho biết họ tiếp tục sử dụng điểu trị bằng sóng xung, xen giữa các phương pháp điểu trị sỏi thận thay thế khác.

Bác sĩ Segura cho biết: “Mặc dù có những rủi ro, nhưng liệu pháp điều trị bằng sóng xung có thể giữ lại sự sống cho bệnh nhân và sẽ sai lầm nếu như cho rằng phương pháp điểu trị này không còn có ích nữa”.

Những nhà nghiên cứu cho biết bây giờ họ đã hỏi ý kiến bệnh nhân về rủi ro bệnh tiểu đường và bệnh cao huyết huyết áp do điều trị bằng sóng xung.

Bác sĩ Segura nhấn mạnh sự cần thiết cho những bệnh nhân sỏi thận và các bác sĩ điều trị cho họ về tính chuyên nghiệp của điều trị bằng sóng xung đối với từng trường hợp riêng. “Sự cân đối về những rủi ro có đáng nhận hay không” theo Segura. “Chúng tôi cho rằng không làm gì mới là điều không đúng đối với bệnh nhân” Bạn có thể xem xét các liệu pháp thay thế khác – tán sỏi thận qua da (loại sỏi thông qua một vếch gạch nhỏ ở lưng bệnh nhân bằng cách dùng một thiết bị gọi là nephroscope) hay loại sỏi bằng ureteroscopy tạm dịch là quét niệu quản (bẫy sỏi thận bằng một thiết bị nhỏ xuyên qua niệu quản thông qua bàng quang và sau đó phá vỡ sỏi bằng sóng siêu âm hoặc lazer), mỗi phương pháp đều có rủi ro.

Những nhà nghiên cứu bệnh viện Mayo khảo sát những tác động lâu dài của sóng xung với bệnh nhân điều trị với máy gây sóng 1985, một trong những máy ra đời đầu tiên. Theo ông Krambeck và ông Segura cho biết những nghiên cứu thêm bao gồm những nghiên cứu trên những máy mới hơn và những máy có mô hình khác, là cần thiết về liệu pháp bằng sóng xung và rủi ro về bệnh tiểu đường và bệnh cao huyết áp sau đó.

Trước 70 tuổi, khoảng 10% đàn ông và 5% phụ nữ sẽ có sỏi thận, theo Viện Sức khỏe Quốc gia (National Institutes of Health). Bác sĩ Segura cho biết khoảng 1 triệu người dân Mỹ điều trị bằng sóng xung.

Nguồn: Trung tâm CNSH TP.HCM

support
11-06-2012, 01:21 PM
Mình chưa hề biết tới thông tin của kingfox đưa ra, cám ơn vì bài này! Nhưng do những ưu điểm của tán sỏi bằng sóng xung kích, thì việc lựa chọn phương pháp điều trị sẽ do bác sỹ và bệnh nhân cùng quyết định. He he, em mà có sỏi thì em sẽ tán sỏi ngoài cơ thể chứ nhất định không mổ!

yclabel
11-06-2012, 01:21 PM
Đúng rồi, mình nghĩ bất kỳ phương pháp nào nó cũng có một độ an toàn nhất định và đương nhiên sau khi điều trị sẽ có một hậu quả nhất định. Muốn không bị ảnh hưởng của phương pháp tốt nhất mình ráng đừng nên bị bất kỳ chứng bệnh gì cả !

urbaninteriors
11-06-2012, 01:21 PM
Liệu pháp điều tri sỏi thận bằng sóng xung (shock ware) liên quan tới tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và cao huyết áp (Nguồn Sở khoa hoc và công nghệ tỉnh An Giang-Link:http://sokhoahoccn.angiang.gov.vn/xemnoidung.asp?maidtt=860)

duyenhai01
11-06-2012, 01:22 PM
E là thành viên Ku04,hiện có sermina về đề tàin này.Bác kingfor hoặc ai có tài liệu chi tiếc cho e xin-Thanks trước nha.

spumepaso
11-06-2012, 01:22 PM
ai thích liên hệ cho cả quyển đồ án tốt nghiệp luôn

phuongdao
11-06-2012, 01:22 PM
nếu bạn có tài liệu thì up lên cho ae đọc tham khảo ^^
Hoặc nếu tiện thì gửi cho mình 1 bản. Mail ở chữ ký nha bạn

khonggianrieng
11-06-2012, 01:22 PM
Cho mình xin 1 bản vào email nhé : tuan.bme07@gmail.com
Thanks !!!