lyprodan
11-06-2012, 01:20 PM
Hiện nay phương pháp xác định cường độ siêu âm trong các máy điều trị là hết sức cần thiết, nhằm giúp cho các bác sĩ sử dụng đúng liều lượng cường độ siêu âm đến với từng loại bệnh, qua đó nâng cao hiệu quả trong điều trị. Từ trước đến nay ngành y tế đã sử dụng nhiều chủng loại máy siêu âm điều trị của nhiều nước khác nhau, nhưng chưa quan tâm đến việc xác định cường độ siêu âm và chưa nhập những thiết bị chuyên dụng để đo cường độ siêu âm. Chính vì vậy, nhiều viện và bệnh viện trong ngành sử dụng cường độ siêu âm khá tùy tiện, chưa có thiết bị để kiểm tra cường độ siêu âm một cách chính xác.
Để xác định cường độ siêu âm, điều quan trọng trước tiên là xác định tần số dao động cộng hưởng của bản áp điện. Tần số này chính bằng tần số cộng hưởng của bộ phát sóng chủ. Để xác định tần số ta có thể dùng các dụng cụ đo : tần số kế, osiloscop.
Tần số siêu âm, phụ thuộc vào bề dày của áp điện theo công thức sau đây :
F = K/d
F : Tần số siêu âm tính bằng MHz
K : Hằng số đặc trưng cho loại vật liệu áp điện dùng để chế tạo đầu phát siêu âm. Đối với từng loại vật liệu khác nhau thì hằng số K khác nhau : thạch anh K = 2280, muối Seinhet K = 1540, Titanatbari K = 2200.
Sau đây là bảng thống kê sự phụ thuộc tần số vào bề dày và đường kính phát của titanatbari :
http://farm2.static.flickr.com/1059/1037040487_cab2552261.jpg?v=0
Điều quan trọng và có tính chất quyết định đến cường độ siêu âm chính là điện áp cao tần đặt lên bản áp điện. Điện áp đặt lên bản áp điện càng lớn thì cường độ siêu âm càng lớn. Sau khi dùng vôn kế điện tử và tần số kế đo được điện áp và tần số cộng hưởng đặt lên bản áp điện ta sử dụng công thức tính cường độ siêu âm của tác giả Gersgal và Fridman :
http://farm2.static.flickr.com/1140/1037040529_d0f102afe2.jpg?v=0
Trong thực tế tính toán người ta thường chọn hệ số 1,44 (hệ số cao nhất) bởi vì trong quá trình thí nghiệm ở trong nước siêu âm bị suy giảm so với thực tế. Sau đây là kết quả đo được trên máy siêu âm và áp dụng công thức trên ta được cường độ siêu âm.
http://farm2.static.flickr.com/1036/1037040511_486a5e17cf.jpg?v=0
Trong lý thuyết tính toán cũng như trong thực tế sử dụng máy siêu âm điều trị, sai số cho phép cường độ siêu âm từ 15 đến 20%. Với các kết quả đo và tính cường độ siêu âm ở bảng trên đều nằm trong phạm vi sai số cho phép.
Trong cuốn Pastport "Apparat dlia ultrazvukovoi terapi" xuất bản năm 1983 của Liên Xô quy định giá trị cường độ siêu âm cho phép sai lệch trong một khoảng so với giá trị định mức.
http://farm2.static.flickr.com/1015/1037040515_340f4bc7cd.jpg?v=0
Trong bảng trên ta thấy khoảng dao động sai lệch về cường độ siêu âm khá lớn trên 20%. Trong điều trị bằng siêu âm cho phép sử dụng 3 liều đối với mỗi bệnh nhân, từ liều thấp đến liều cao.
Theo tài liệu hướng dẫn điều trị máy US6 của Đức :
1. Liều thấp : 0,03 - 0,3(0,5) W/cm2.
2. Liều trung bình : 0,5 - 1,5(2) W/cm2.
3. Liều cao : 2 - 3 W/cm2.
Thời gian điều trị :
ngắn : 1 - 3 phút.
trung bình : 5 phút.
dài : 10 - 15 phút.
Kết luận :
Trên đây là phương pháp xác định cường độ siêu âm gián tiếp. Phương pháp này được ứng dụng rộng rãi ở Liên Xô, Đức, Tiệp; nó có ưu điểm là dùng những thiết bị đo thông thường để xác định cường độ siêu âm một cách nhanh chóng và tương đối chính xác. Hiện nay rất nhiều nước chưa có thiết bị để đo trực tiếp cường độ siêu âm phát ra. Bởi vì chế tạo thiết bị đo trực tiếp rất đắc tiền và phức tạp. Trong điều kiện đất nước ta hiện nay, chúng ta hoàn toàn có thể ứng dụng phương pháp này để xác định lại cường độ siêu âm của các máy điều trị trong các bệnh viện.
SUMMARY
INDIRECT METHOD FOR MEASURING ULTRASONIC STRENGTH
The author emphasizes the importance of the method for defining the ultrasonic strength in ultrasonic equipment used in medical diagnosis because this will help doctors to diagnose more accurately and increase the diagnostic effectiveness of ultrasonic equipment white not causing any other complication the author introduces the direct method for measuring ultrasonic strength because the equipment for direct measurement of ultrasonic strength is very expensive.
Để xác định cường độ siêu âm, điều quan trọng trước tiên là xác định tần số dao động cộng hưởng của bản áp điện. Tần số này chính bằng tần số cộng hưởng của bộ phát sóng chủ. Để xác định tần số ta có thể dùng các dụng cụ đo : tần số kế, osiloscop.
Tần số siêu âm, phụ thuộc vào bề dày của áp điện theo công thức sau đây :
F = K/d
F : Tần số siêu âm tính bằng MHz
K : Hằng số đặc trưng cho loại vật liệu áp điện dùng để chế tạo đầu phát siêu âm. Đối với từng loại vật liệu khác nhau thì hằng số K khác nhau : thạch anh K = 2280, muối Seinhet K = 1540, Titanatbari K = 2200.
Sau đây là bảng thống kê sự phụ thuộc tần số vào bề dày và đường kính phát của titanatbari :
http://farm2.static.flickr.com/1059/1037040487_cab2552261.jpg?v=0
Điều quan trọng và có tính chất quyết định đến cường độ siêu âm chính là điện áp cao tần đặt lên bản áp điện. Điện áp đặt lên bản áp điện càng lớn thì cường độ siêu âm càng lớn. Sau khi dùng vôn kế điện tử và tần số kế đo được điện áp và tần số cộng hưởng đặt lên bản áp điện ta sử dụng công thức tính cường độ siêu âm của tác giả Gersgal và Fridman :
http://farm2.static.flickr.com/1140/1037040529_d0f102afe2.jpg?v=0
Trong thực tế tính toán người ta thường chọn hệ số 1,44 (hệ số cao nhất) bởi vì trong quá trình thí nghiệm ở trong nước siêu âm bị suy giảm so với thực tế. Sau đây là kết quả đo được trên máy siêu âm và áp dụng công thức trên ta được cường độ siêu âm.
http://farm2.static.flickr.com/1036/1037040511_486a5e17cf.jpg?v=0
Trong lý thuyết tính toán cũng như trong thực tế sử dụng máy siêu âm điều trị, sai số cho phép cường độ siêu âm từ 15 đến 20%. Với các kết quả đo và tính cường độ siêu âm ở bảng trên đều nằm trong phạm vi sai số cho phép.
Trong cuốn Pastport "Apparat dlia ultrazvukovoi terapi" xuất bản năm 1983 của Liên Xô quy định giá trị cường độ siêu âm cho phép sai lệch trong một khoảng so với giá trị định mức.
http://farm2.static.flickr.com/1015/1037040515_340f4bc7cd.jpg?v=0
Trong bảng trên ta thấy khoảng dao động sai lệch về cường độ siêu âm khá lớn trên 20%. Trong điều trị bằng siêu âm cho phép sử dụng 3 liều đối với mỗi bệnh nhân, từ liều thấp đến liều cao.
Theo tài liệu hướng dẫn điều trị máy US6 của Đức :
1. Liều thấp : 0,03 - 0,3(0,5) W/cm2.
2. Liều trung bình : 0,5 - 1,5(2) W/cm2.
3. Liều cao : 2 - 3 W/cm2.
Thời gian điều trị :
ngắn : 1 - 3 phút.
trung bình : 5 phút.
dài : 10 - 15 phút.
Kết luận :
Trên đây là phương pháp xác định cường độ siêu âm gián tiếp. Phương pháp này được ứng dụng rộng rãi ở Liên Xô, Đức, Tiệp; nó có ưu điểm là dùng những thiết bị đo thông thường để xác định cường độ siêu âm một cách nhanh chóng và tương đối chính xác. Hiện nay rất nhiều nước chưa có thiết bị để đo trực tiếp cường độ siêu âm phát ra. Bởi vì chế tạo thiết bị đo trực tiếp rất đắc tiền và phức tạp. Trong điều kiện đất nước ta hiện nay, chúng ta hoàn toàn có thể ứng dụng phương pháp này để xác định lại cường độ siêu âm của các máy điều trị trong các bệnh viện.
SUMMARY
INDIRECT METHOD FOR MEASURING ULTRASONIC STRENGTH
The author emphasizes the importance of the method for defining the ultrasonic strength in ultrasonic equipment used in medical diagnosis because this will help doctors to diagnose more accurately and increase the diagnostic effectiveness of ultrasonic equipment white not causing any other complication the author introduces the direct method for measuring ultrasonic strength because the equipment for direct measurement of ultrasonic strength is very expensive.