imexvietthang
14-06-2012, 09:35 AM
Em đọc được bài viết này trên trang http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn Post lên cùng các anh chị tham khảo.
Những trường hợp nhiệt đông cao tần qua nội soi phế quản đầu tiên ở Việt Nam
Nhiệt đông cao tần là một kỹ thuật tương đối mới để phá hủy các khối u phí phế quản. Phương pháp này chỉ chọn lọc tác dụng nhiệt của dòng điện mà tránh các tác dụng hủy điện tử và điện ứng kích thích các tế bào thần kinh và tế bào cơ. Người ta thường dùng hiện tượng nhiệt động nhẹ trong đó các mô chỉ được làm nóng từ 70 – 1000C làm bốc hơi nước để phá hủy mô tức thời. Những điện cực được sử dụng có thể là điện cực cứng hay mềm , thông thường là các loại đơn cực. Dòng điện cao tần chạy qua các mô sẽ tụ tập và thoát đi theo điện cực trung tính. Có một thế hệ ống nội soi phế quản mềm , mới, hoàn toàn cách điện giúp tối ưu hóa sự an toàn khi sử dụng. Những máy phát điện mới phân phối một điện thế ổn định và được điều khiển bằng vi xử lý cho phép kiểm soát tiến trình nhiệt đông bằng cách điều chỉnh năng lượng nhiệt tùy theo khối lượng và bản chất của mô cần phá hủy. Điện cực được áp vào mô. Tác dụng tức thì giống như tác dụng của laser. Sự sử dụng giản đơn và mau chóng, giá thành rẻ đã làm cho kỹ thuật này trở nên hấp dẫn ngay cả ở các nước đã phát triển nơi mà quỹ đầu tư càng ngày càng giới hạn. Chúng tôi xin giới thiệu lý thuyết của kỹ thuật nhiệt đông cao tần và ba trường hợp đầu tiên ứng dụng kỹ thuật này.
Nhiệt đông cao tần là một kỹ thuật tương đối mới để phá hủy các bít tắc trong cây khí phế quản. Kỹ thuật này đơn giản, mau chóng và giá thành thấp, có thể áp ụng dễ dàng tại mọi đơn vị có phòng soi phế quản. Để đáp ứng với chương trình điều trị Ung thư phế quản - phổi sẽ triển khai trong thời gian tới, chúng tôi xin giới thiệu ba trường hợp đầu tiên áp dụng kỹ thuật nhiệt đông cao tần tại khu bệnh phổi BV. Phạm Ngọc Thạch.
Trường hợp 1
Bệnh nhân N. H. C. 37 tuổi, nhập viện ngày 21/3/2002 vì khạc ra máu.
Bệnh sử: bệnh khởi phát từ một tháng với ho ít đàm trắng đục, có một lần giây ít màu đỏ bầm, đau ran ngực trái, không sốt, không khó thở, ăn ngủ tạm ổn, chưa điều trị đặc hiệu.
Tiền sử: đoạn chân trái năm 1995 tại Trung tâm Ung Bướu không rõ giải phẫu bệnh.
Xquang lồng ngực phát hiện một hình ảnh u tròn, đồng nhất, bờ rõ, đường kính 3.5cm nằm ngay góc đòn ức trái.
Nội soi phế quản ngày 26/3/2001 phát hiện một khối u nội phế quản mềm nhũn, có cuống, mọc từ trong phế quản culmen (phế quản thuỳ trên trái), chạy dài theo phế quản thùy trên và nhô vào phế quản gốc trái. Khối u được chải bằng bàn chải và sinh thiết ba mẫu. Kết quả giải phẫu bệnh là mô hoại tử không định hình.
Nội soi phế quản lần hai ngày 3/4/2001 cũng thấy hình ảnh như trên. Khối u được sinh thiết 4 mẫu. Ngày sau đó, khối u được cắt bằng thòng lọng và đốt bằng điện cực mềm của máy nhiệt đông cao tần. Kết quả giải phẫu bệnh của 2 trong 4 mẫu sinh thiết là u nấm Aspergillus fumigatus.
Ngày 10/4/2001 bệnh nhân được soi kiểm tra, kết quả là phế quản S1+2 trái vẫn bị bít hoàn toàn do khối u còn lại. Phế quản S3 trái có nhiều mày trắng của vết cắt đốt cũ. Khối u được sinh thiết 3 mẫu. Đốt lại khối u bằng nhiệt đông cao tần. Kết quả giải phẫu bệnh cũng chỉ là mô hoại tử.
Ngày 19/4/2001 bệnh nhân được chuyển sang BV. Chợ Rẫy điều trị phẫu thuật.
Trường hợp 2:
Bệnh nhân T. X. D. 71 tuổi, nhập viện ngày 14/3/2001 để chẩn đoán hình ảnh bóng mờ đáy phổi trái.
Bệnh sử: bệnh nhân ho khan kéo dài 3 tuần, không đau ngực. Đã điều trị tại BV. Nhân dân Gia Định 10 ngày bằng Intrataxim không đạt kết qủa.
Hình ảnh Xquang lồng ngực chuẩn cho thấy hội chứng phế nang rải rác hai phổi, tập trung nhiều tại vùng đáy trái.
Hình cắt lớp điện toán cho thấy tổn thương phế nang rải rác ở hai đỉnh và tập trung nhiều ở đáy phổi trái, gợi ý nghĩ nhiều đến lao phổi.
Nội soi phế quản ngày 16/3/2001 cho thấy một khối u sùi nhiều múi bít gần hoàn toàn đoạn đầu phế quản thùy dưới trái. Khối u được chải và sinh thiết để chẩn đoán mô học. Kết quả giải phẫu bệnh là viêm lao ở phế quản.
Nội soi phế quản lần 2 ngày 28/3/2001 để đốt khối u bằng kỹ thuật nhiệt đông cao tần.
Ngày 5/4/201 bệnh nhân được soi kiểm tra, phế quản thùy dưới trái đã thông trở lại bằng một lỗ nhỏ, chung quanh là mô hoại tử do đốt bằng nhiệt đông cao tần.
Ngày 9/4/2001 bệnh nhân được chuyển đếnTrạm chống lao quận Bình Thạnh điều trị lao theo chương trình lao quốc gia.
Trường hợp 3:
Bệnh nhân N. T.T. 52 tuổi, nhập viện vì đau ngực.
Bệnh sử: bệnh nhân bị đau ngực nhẹ khi ấn vào thành ngực phải, đau không theo nhịp thở, thỉnh thoảng ho có đàm ít màu trắng hay vàng.
Hình Xquang lồng ngực chuẩn cho thấy một hội chứng thùy giữa.
Nội soi phế quản ngày 8/5/2001 phát hiện một khối u nội phế quản trơn láng, màu vàng, bít hoàn toàn phế quản thùy giữa và nhô vào phế quản trung gian. Khối u được sinh thiết và chải để chẩn đoán mô học. Kết quả giải phẫu bệnh là u nấm Aspergillus fumigatus.
Ngày 16/5/2001, bệnh nhân được soi phế quản lần hai để cắt đốt u bằng nhiệt đông cao tần.
Ngày 23/5/2002 bệnh nhân tự ý xin xuất viện.
Tóm lược lý thuyết kỹ thuật nhiệt đông cao tần
Từ những năm 1930, nhiệt đông đã được sử dụng để điều trị các khối u trực tràng . Kỹ thuật này luôn luôn thành công trong ngành ruột - bao tử nhưng các thiết bị đã tiến rất xa. Những trường hợp đầu tiên trong ngành phế quản học cũng đã được thực hiện cùng thời đó nhưng đã bị loại bỏ mau chóng vì các biến chứng trầm trọng như thủng phế quản và ho ra máu chết người . Thực tế, những máy phát điện đã gây ra những vết bỏng với các mô bị than hóa. Ngoài khói và mùi rất khó chịu của thịt nướng khi làm thủ thuật, những tai biến đã xảy ra vài ngày sau khi vết loét rụng. Tuy nhiên, có vài báo cáo không bao giờ quá 20 trường hợp đã thỉnh thoảng được ấn hành cho đến các năm gần đây. Các điện cực sử dụng thường là đơn cực, đôi khi lưỡng cực, cứng hoặc mềm, hình tròn hay hình thòng lọng để cắt bỏ các khối u có cuống
Từ vài năm gần đây, đã có những thiết bị tân tiến hơn, đó là máy phát điện cao tần và các ống soi đặc biệt. Sự an toàn khi sử dụng dòng điện cao tần được đảm bảo và tránh được các biến chứng khi chúng ta tôn trọng các qui cách sử dụng. Hiện tại, kỹ thuật nhiệt đông cao tần là một kỹ thuật chắc chắn có vị trí xứng đáng trong các kỹ thuật soi phế quản trị liệu , sử dụng dễ dàng với tác dụng tức thời, xứng đáng được mệnh danh là “laser của người nghèo” vì giá thành tương đối không cao.
Những nguyên tắc cơ bản của phẫu thuật điện cao tần
Kiến thức cơ bản về lý thuyết liên quan đến dòng điện cao tần không thể thiếu để sử dụng tối ưu các thiết bị và tôn trọng các qui luật an toàn.
Khi dòng điện chạy qua mô sống, ta có thể thấy ba hiện tượng: tác dụng phân hủy điện tử gây ra bởi sự chuyển dịch ions trong mô; tác dụng điện ứng (faradique) kích thích các tế bào thần kinh và tế bào cơ ; tác dụng nhiệt do năng lượng của dòng điện biến thành sức nóng. Chính tác dụng nhiệt này chiếm ưu thế trong dòng điện cao tần xoay chiều. Nhiệt đông cao tần được sử dụng để phá hủy các mô bởi tác dụng nhiệt và tranh thủ tối đa tác dụng phân hủy điện tử cũng như tác dụng faradique nhờ một dòng điện cao tần xoay chiều có chu kỳ nhỏ hơn 300 kilo Hertz.
Trong thực hành, ta phân biệt hai ứng dụng chính của tác dụng nhiệt: cắt (dao điện) và làm đông. Khác biệt chính giữa hai tác dụng này là thời gian đốt nóng mô. Nhiệt đông hay nhiệt đông trắng, gây ra bởi mô bị làm nóng lên tương đối chậm. Nó xuất hiện khi nhiệt độ chung quanh 700C. Thực tế, tổn thương tế bào khác nhau tùy nhiệt độ đạt được.
Sự biến chất của tế bào do nhiệt độ
Dưới
400C
Không có thương tổn đáng kể của tế bào
Từ
400C
Tổn thương tế bào hồi phục được tùy theo thời gian tiếp xúc
Từ
700C
Tế bào đông lại
Từ
1000C
Giai đoạn biến đổi dịch nội và ngoại bào thành hơi nước. Mô bị khô nhanh chóng, tác dụng dính xảy ra do đường glucose bị mất nước
Từ
2000C
Than hóa
Ở các nhiệt độ cao hơn, chất collagène của mô sẽ biến thành glucose dẫn đến sự tạo than đóng cáu ở điện cực và gây dính vào mô;chất than được tạo ra trở thành chất cách điện cản trở tiến trình nhiệt đông. Nhiệt độ tăng một cách khác nhau tùy theo tính chất điện và nhiệt của mô. Độ mạnh của dòng điện phân bố không đều vào trong mô, thường mạnh nhất ở mặt tiếp xúc hiệu quả giữa điện cực và mô, càng xa nhiệt độ càng giảm dần. Ta phân biệt ba cách làm đông: nhẹ, mạnh và phun. Nhiệt đông nhẹ có đặc tính là không có cung điện (arc électrique) giữa điện cực và mô. Điện thế không được thay đổi và không quá 200 Volt. Nhiệt đông mạnh xảy ra khi điện thế đủ mạnh để tạo ra những cung điện với độ dài sóng định trước. Điện thế tối thiểu là 500 Volt. Kỹ thuật này dùng để tạo những vùng nhiệt đông sâu với những điện cực nhỏ. Khi làm nhiệt đông nhẹ hay mạnh, ta áp điện cực vào mô. Nhiệt đông phun xảy ra khi điện thế cao tần lên đến vài kiloVolt. Cung điện tạo ra khá dài nên không cần áp điện cực vào mô. Kỹ thuật này dùng để làm đông bề mặt khi muốn cầm máu.
Tác dụng cắt xảy ra khi điện thế đủ lớn để tạo ra cung điện giữa điện cực và mô. Dòng điện được tập trung vào điểm tiếp xúc của điện cực, những tia chớp cực nhỏ tạo ra nâng rất nhanh nhiệt độ của dịch tế bào lên làm cho áp lực hơi nước trong tế bào phá hủy thành tế bào, dẫn đến xé rách mô. Để tạo một cung điện, ta cần một điện thế 200 Volt.
Có hai loại điện cực: điện cực đơn cực và lưỡng cực. Những điện cực lưỡng cực, mặc dầu có vài lợi ích nhưng ít được dùng trong ngành phế quản họ
(Theo Hội Thảo Pháp -Việt lần thứ III
Về Bệnh Phổi và Phẩu thuật Lồng Ngực tại TTĐT&BDCBYT)
Những trường hợp nhiệt đông cao tần qua nội soi phế quản đầu tiên ở Việt Nam
Nhiệt đông cao tần là một kỹ thuật tương đối mới để phá hủy các khối u phí phế quản. Phương pháp này chỉ chọn lọc tác dụng nhiệt của dòng điện mà tránh các tác dụng hủy điện tử và điện ứng kích thích các tế bào thần kinh và tế bào cơ. Người ta thường dùng hiện tượng nhiệt động nhẹ trong đó các mô chỉ được làm nóng từ 70 – 1000C làm bốc hơi nước để phá hủy mô tức thời. Những điện cực được sử dụng có thể là điện cực cứng hay mềm , thông thường là các loại đơn cực. Dòng điện cao tần chạy qua các mô sẽ tụ tập và thoát đi theo điện cực trung tính. Có một thế hệ ống nội soi phế quản mềm , mới, hoàn toàn cách điện giúp tối ưu hóa sự an toàn khi sử dụng. Những máy phát điện mới phân phối một điện thế ổn định và được điều khiển bằng vi xử lý cho phép kiểm soát tiến trình nhiệt đông bằng cách điều chỉnh năng lượng nhiệt tùy theo khối lượng và bản chất của mô cần phá hủy. Điện cực được áp vào mô. Tác dụng tức thì giống như tác dụng của laser. Sự sử dụng giản đơn và mau chóng, giá thành rẻ đã làm cho kỹ thuật này trở nên hấp dẫn ngay cả ở các nước đã phát triển nơi mà quỹ đầu tư càng ngày càng giới hạn. Chúng tôi xin giới thiệu lý thuyết của kỹ thuật nhiệt đông cao tần và ba trường hợp đầu tiên ứng dụng kỹ thuật này.
Nhiệt đông cao tần là một kỹ thuật tương đối mới để phá hủy các bít tắc trong cây khí phế quản. Kỹ thuật này đơn giản, mau chóng và giá thành thấp, có thể áp ụng dễ dàng tại mọi đơn vị có phòng soi phế quản. Để đáp ứng với chương trình điều trị Ung thư phế quản - phổi sẽ triển khai trong thời gian tới, chúng tôi xin giới thiệu ba trường hợp đầu tiên áp dụng kỹ thuật nhiệt đông cao tần tại khu bệnh phổi BV. Phạm Ngọc Thạch.
Trường hợp 1
Bệnh nhân N. H. C. 37 tuổi, nhập viện ngày 21/3/2002 vì khạc ra máu.
Bệnh sử: bệnh khởi phát từ một tháng với ho ít đàm trắng đục, có một lần giây ít màu đỏ bầm, đau ran ngực trái, không sốt, không khó thở, ăn ngủ tạm ổn, chưa điều trị đặc hiệu.
Tiền sử: đoạn chân trái năm 1995 tại Trung tâm Ung Bướu không rõ giải phẫu bệnh.
Xquang lồng ngực phát hiện một hình ảnh u tròn, đồng nhất, bờ rõ, đường kính 3.5cm nằm ngay góc đòn ức trái.
Nội soi phế quản ngày 26/3/2001 phát hiện một khối u nội phế quản mềm nhũn, có cuống, mọc từ trong phế quản culmen (phế quản thuỳ trên trái), chạy dài theo phế quản thùy trên và nhô vào phế quản gốc trái. Khối u được chải bằng bàn chải và sinh thiết ba mẫu. Kết quả giải phẫu bệnh là mô hoại tử không định hình.
Nội soi phế quản lần hai ngày 3/4/2001 cũng thấy hình ảnh như trên. Khối u được sinh thiết 4 mẫu. Ngày sau đó, khối u được cắt bằng thòng lọng và đốt bằng điện cực mềm của máy nhiệt đông cao tần. Kết quả giải phẫu bệnh của 2 trong 4 mẫu sinh thiết là u nấm Aspergillus fumigatus.
Ngày 10/4/2001 bệnh nhân được soi kiểm tra, kết quả là phế quản S1+2 trái vẫn bị bít hoàn toàn do khối u còn lại. Phế quản S3 trái có nhiều mày trắng của vết cắt đốt cũ. Khối u được sinh thiết 3 mẫu. Đốt lại khối u bằng nhiệt đông cao tần. Kết quả giải phẫu bệnh cũng chỉ là mô hoại tử.
Ngày 19/4/2001 bệnh nhân được chuyển sang BV. Chợ Rẫy điều trị phẫu thuật.
Trường hợp 2:
Bệnh nhân T. X. D. 71 tuổi, nhập viện ngày 14/3/2001 để chẩn đoán hình ảnh bóng mờ đáy phổi trái.
Bệnh sử: bệnh nhân ho khan kéo dài 3 tuần, không đau ngực. Đã điều trị tại BV. Nhân dân Gia Định 10 ngày bằng Intrataxim không đạt kết qủa.
Hình ảnh Xquang lồng ngực chuẩn cho thấy hội chứng phế nang rải rác hai phổi, tập trung nhiều tại vùng đáy trái.
Hình cắt lớp điện toán cho thấy tổn thương phế nang rải rác ở hai đỉnh và tập trung nhiều ở đáy phổi trái, gợi ý nghĩ nhiều đến lao phổi.
Nội soi phế quản ngày 16/3/2001 cho thấy một khối u sùi nhiều múi bít gần hoàn toàn đoạn đầu phế quản thùy dưới trái. Khối u được chải và sinh thiết để chẩn đoán mô học. Kết quả giải phẫu bệnh là viêm lao ở phế quản.
Nội soi phế quản lần 2 ngày 28/3/2001 để đốt khối u bằng kỹ thuật nhiệt đông cao tần.
Ngày 5/4/201 bệnh nhân được soi kiểm tra, phế quản thùy dưới trái đã thông trở lại bằng một lỗ nhỏ, chung quanh là mô hoại tử do đốt bằng nhiệt đông cao tần.
Ngày 9/4/2001 bệnh nhân được chuyển đếnTrạm chống lao quận Bình Thạnh điều trị lao theo chương trình lao quốc gia.
Trường hợp 3:
Bệnh nhân N. T.T. 52 tuổi, nhập viện vì đau ngực.
Bệnh sử: bệnh nhân bị đau ngực nhẹ khi ấn vào thành ngực phải, đau không theo nhịp thở, thỉnh thoảng ho có đàm ít màu trắng hay vàng.
Hình Xquang lồng ngực chuẩn cho thấy một hội chứng thùy giữa.
Nội soi phế quản ngày 8/5/2001 phát hiện một khối u nội phế quản trơn láng, màu vàng, bít hoàn toàn phế quản thùy giữa và nhô vào phế quản trung gian. Khối u được sinh thiết và chải để chẩn đoán mô học. Kết quả giải phẫu bệnh là u nấm Aspergillus fumigatus.
Ngày 16/5/2001, bệnh nhân được soi phế quản lần hai để cắt đốt u bằng nhiệt đông cao tần.
Ngày 23/5/2002 bệnh nhân tự ý xin xuất viện.
Tóm lược lý thuyết kỹ thuật nhiệt đông cao tần
Từ những năm 1930, nhiệt đông đã được sử dụng để điều trị các khối u trực tràng . Kỹ thuật này luôn luôn thành công trong ngành ruột - bao tử nhưng các thiết bị đã tiến rất xa. Những trường hợp đầu tiên trong ngành phế quản học cũng đã được thực hiện cùng thời đó nhưng đã bị loại bỏ mau chóng vì các biến chứng trầm trọng như thủng phế quản và ho ra máu chết người . Thực tế, những máy phát điện đã gây ra những vết bỏng với các mô bị than hóa. Ngoài khói và mùi rất khó chịu của thịt nướng khi làm thủ thuật, những tai biến đã xảy ra vài ngày sau khi vết loét rụng. Tuy nhiên, có vài báo cáo không bao giờ quá 20 trường hợp đã thỉnh thoảng được ấn hành cho đến các năm gần đây. Các điện cực sử dụng thường là đơn cực, đôi khi lưỡng cực, cứng hoặc mềm, hình tròn hay hình thòng lọng để cắt bỏ các khối u có cuống
Từ vài năm gần đây, đã có những thiết bị tân tiến hơn, đó là máy phát điện cao tần và các ống soi đặc biệt. Sự an toàn khi sử dụng dòng điện cao tần được đảm bảo và tránh được các biến chứng khi chúng ta tôn trọng các qui cách sử dụng. Hiện tại, kỹ thuật nhiệt đông cao tần là một kỹ thuật chắc chắn có vị trí xứng đáng trong các kỹ thuật soi phế quản trị liệu , sử dụng dễ dàng với tác dụng tức thời, xứng đáng được mệnh danh là “laser của người nghèo” vì giá thành tương đối không cao.
Những nguyên tắc cơ bản của phẫu thuật điện cao tần
Kiến thức cơ bản về lý thuyết liên quan đến dòng điện cao tần không thể thiếu để sử dụng tối ưu các thiết bị và tôn trọng các qui luật an toàn.
Khi dòng điện chạy qua mô sống, ta có thể thấy ba hiện tượng: tác dụng phân hủy điện tử gây ra bởi sự chuyển dịch ions trong mô; tác dụng điện ứng (faradique) kích thích các tế bào thần kinh và tế bào cơ ; tác dụng nhiệt do năng lượng của dòng điện biến thành sức nóng. Chính tác dụng nhiệt này chiếm ưu thế trong dòng điện cao tần xoay chiều. Nhiệt đông cao tần được sử dụng để phá hủy các mô bởi tác dụng nhiệt và tranh thủ tối đa tác dụng phân hủy điện tử cũng như tác dụng faradique nhờ một dòng điện cao tần xoay chiều có chu kỳ nhỏ hơn 300 kilo Hertz.
Trong thực hành, ta phân biệt hai ứng dụng chính của tác dụng nhiệt: cắt (dao điện) và làm đông. Khác biệt chính giữa hai tác dụng này là thời gian đốt nóng mô. Nhiệt đông hay nhiệt đông trắng, gây ra bởi mô bị làm nóng lên tương đối chậm. Nó xuất hiện khi nhiệt độ chung quanh 700C. Thực tế, tổn thương tế bào khác nhau tùy nhiệt độ đạt được.
Sự biến chất của tế bào do nhiệt độ
Dưới
400C
Không có thương tổn đáng kể của tế bào
Từ
400C
Tổn thương tế bào hồi phục được tùy theo thời gian tiếp xúc
Từ
700C
Tế bào đông lại
Từ
1000C
Giai đoạn biến đổi dịch nội và ngoại bào thành hơi nước. Mô bị khô nhanh chóng, tác dụng dính xảy ra do đường glucose bị mất nước
Từ
2000C
Than hóa
Ở các nhiệt độ cao hơn, chất collagène của mô sẽ biến thành glucose dẫn đến sự tạo than đóng cáu ở điện cực và gây dính vào mô;chất than được tạo ra trở thành chất cách điện cản trở tiến trình nhiệt đông. Nhiệt độ tăng một cách khác nhau tùy theo tính chất điện và nhiệt của mô. Độ mạnh của dòng điện phân bố không đều vào trong mô, thường mạnh nhất ở mặt tiếp xúc hiệu quả giữa điện cực và mô, càng xa nhiệt độ càng giảm dần. Ta phân biệt ba cách làm đông: nhẹ, mạnh và phun. Nhiệt đông nhẹ có đặc tính là không có cung điện (arc électrique) giữa điện cực và mô. Điện thế không được thay đổi và không quá 200 Volt. Nhiệt đông mạnh xảy ra khi điện thế đủ mạnh để tạo ra những cung điện với độ dài sóng định trước. Điện thế tối thiểu là 500 Volt. Kỹ thuật này dùng để tạo những vùng nhiệt đông sâu với những điện cực nhỏ. Khi làm nhiệt đông nhẹ hay mạnh, ta áp điện cực vào mô. Nhiệt đông phun xảy ra khi điện thế cao tần lên đến vài kiloVolt. Cung điện tạo ra khá dài nên không cần áp điện cực vào mô. Kỹ thuật này dùng để làm đông bề mặt khi muốn cầm máu.
Tác dụng cắt xảy ra khi điện thế đủ lớn để tạo ra cung điện giữa điện cực và mô. Dòng điện được tập trung vào điểm tiếp xúc của điện cực, những tia chớp cực nhỏ tạo ra nâng rất nhanh nhiệt độ của dịch tế bào lên làm cho áp lực hơi nước trong tế bào phá hủy thành tế bào, dẫn đến xé rách mô. Để tạo một cung điện, ta cần một điện thế 200 Volt.
Có hai loại điện cực: điện cực đơn cực và lưỡng cực. Những điện cực lưỡng cực, mặc dầu có vài lợi ích nhưng ít được dùng trong ngành phế quản họ
(Theo Hội Thảo Pháp -Việt lần thứ III
Về Bệnh Phổi và Phẩu thuật Lồng Ngực tại TTĐT&BDCBYT)